Ngô Nhân Dụng
Căn cứ vào phản ứng trên các mạng, nhiều người Việt Nam kinh ngạc về đoạn phim hoạt họa với chủ đề chống bệnh Si đa (Aids) do một nhóm sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền ở Hà Nội thực hiện và được phổ biến khắp nước. Đoạn phim dài một phút rưỡi (thường gọi là “clip”) tả cảnh bốn thầy trò nhân vật “Đường Tông” được Phật tổ trao… thùng bao cao su (condom) ngừa thai và ngừa bệnh, để giúp chúng sinh tránh bệnh hiểm nghèo.
Đức Phật vốn là người từ bi mà cũng hay hài hước, nếu nghe chuyện hình ảnh mình bị lợi dụng như thế chắc ngài cũng chỉ cười. Cũng như khi người Việt mình nói, “Gần chùa gọi Bụt bằng anh,” nghe có vẻ thất kính đấy mà vẫn bao dung được. Nhưng mọi người biết suy nghĩ và được cha mẹ dậy dỗ, thuộc bất cứ giống dân nào trên thế giới chứ không riêng các Phật tử Việt Nam, chắc ai cũng phải bực mình về đoạn clip này, vì nó đi quá giới hạn của óc hài hước. Nó trở thành “báng bổ” như Giáo hội Phật Giáo đã lên án. Người ta phải tự hỏi: Trong đầu óc các bạn trẻ này chứa đựng những thứ gì mà họ lại làm một đoạn phim lố lăng như vậy?
Một sinh viên năm 3, học ngành Xã hội – Nhân văn, trường Đại học Khoa học Huế đã ôn tồn hỏi thẳng nhóm sinh viên tác giả đoạn clip trên: “Các bạn có biết bao nhiêu người dân Việt Nam có tín ngưỡng Phật giáo không? … Các bạn có biết Đức Phật Thích Ca, ngài Tam Tạng Huyền Trang là nhân vật lịch sử không? Các bạn có biết ý nghĩa của (tiểu thuyết) Tây Du Ký là gì không?”
Chắc các sinh viên trẻ này có biết một chút, cho nên họ mới né tránh đặt tên Đường Tông, thay cho tên gọi Đường Tăng. Mặc dù biết có thể xúc phạm nhiều người, nhưng họ vẫn làm. Chắc vì họ không thấy chuyện tín ngưỡng của người khác là quan trọng đến độ mình phải bỏ một ý sáng tạo độc đáo, rất ngộ nghĩnh, tha hồ cười. Phải đặt thêm một câu hỏi: “Đầu óc của họ nó hoạt động ra sao?” Nói theo lối thời thượng, hầu như họ ở trạng thái “vô cảm.” Họ hoàn toàn vô cảm trước niềm tin tôn giáo của người khác, dù rất nhiều người sống chung quanh họ. Họ không thấy cần tránh đừng xúc phạm tới những nhân vật lịch sử như Đức Phật, hay Thầy Huyền Trang, vốn được rất nhiều người kính ngưỡng.
Huyền Trang (603 – 664) là một nhà sư Trung Hoa đời Đường đã lặn lội đi sang tận Ấn Độ, mang về nhiều tác phẩm thuộc cả “ba tạng kinh điển” Phật Giáo. Trong 20 năm cuối đời, ông dịch hầu hết sang chữ Hán; sáng tạo thêm trên 30,000 từ mới trong tiếng Trung Hoa mà các dân tộc Á Đông được hưởng chung. Câu chuyện cuộc hành trình “du học” 17 năm của ông, từ năm 629 đến 645, đã được tiểu thuyết hóa trong Tây Du Ký, với các nhân vật Đường Tam Tạng, Tôn Ngộ Không, Sa Tăng, Chư Bát Giới được phổ biến khắp các nước Á Đông. Đem hình ảnh ông ra đùa rỡn đã là thiếu lễ độ. Đem ghép hình ảnh ông vào những cái bao cao su là hành động xúc phạm quá nặng nề; chỉ những người vô học mới làm như vậy.
Ban trị sự Giáo hội Phật Giáo Việt Nam đã phản ứng rất đúng khi lên tiếng về đoạn phim “bang bổ” này và yêu cầu những người có trách nhiệm phải xin lỗi. Xúc phạm tới hình ảnh Đức Phật là một hành động thiếu giáo dục. Mượn hình ảnh Đường Tăng để cười đùa là vô ý thức. Nhiều ngôi chùa Việt Nam trong và ngoài nước hiện nay hàng ngày còn tụng Tâm kinh Bát Nhã bản chữ Hán; nhiều chùa ở Nhật Bản, Hàn Quốc cũng vậy. Có một phim Đại Hàn tả cảnh một tăng sĩ trẻ khắc bản kinh này trên sàn gỗ, nhiều người Việt coi rồi truyền gửi cho nhau trên mạng, với lời tán thán. Bài kinh được tụng đọc và đem khắc đó chính là bản dịch của Thầy Huyền Trang. Từ thế kỷ thứ tám, bản dịch này đã được các Phật tử Á Đông tụng đọc, thay thế tất cả những bản dịch trước đó; vì lời văn của Huyền Trang nhuần nhã, khúc triết, hùng hồn, và rất sát với nguyên bản chữ Phạn.
Các bạn trẻ trong nhóm nhóm sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền ở Hà Nội làm phim này chắc chắn có lỗi, mà chắc họ sẽ xin lỗi, khi nào được chỉ thị. Nhưng chúng ta cũng không nên quá khắt khe lên án các bạn trẻ đó. Ở tuổi sinh viên, chắc họ không có ác ý, tính phỉ báng một tín ngưỡng của đa số đồng bào. Họ muốn tranh một cái giải thi phim ngắn. Bằng bất cứ cách nào, họ phải giành được giải nhất! Họ ngây thơ nghĩ rằng nếu sử dụng các nhân vật ai cũng biết từ Tây Du Ký, đem vào đoạn phim cười, mọi người chắc sẽ phải thích. Mà việc đưa hình ảnh Đức Phật ra làm công việc nhằm “cứu khổ” cũng tự nhiên. Ai mà chẳng thấy Ông Bụt là hình ảnh con người thương chúng sinh, đáng tin tưởng?? Nếu có người đưa sáng kiến dùng hình ảnh những nhân vật nổi danh khác, như Lê Nin hay Hồ Chí Minh vào, chắc sẽ bị bác bỏ. Thử chiếu cảnh bến tầu Sài Gòn, làm một clip phim “Người ra đi tìm đường ngừa bệnh Si đa” thì các bạn trẻ khi coi phim rồi lại cười nhạo: Coi chừng, toàn bao cao su “rởm” đó!
Nhóm sinh viên làm phim này họ chỉ có lỗi là hoàn toàn vô cảm trước vấn đề tín ngưỡng. Mà không phải chỉ có họ mắc bệnh vô cảm. Công văn của Giáo hội Phật giáo nói thẳng “một số người có trách nhiệm” đã ca ngợi, tán dương video clip nói trên, không nêu đích danh. Những người chấm giải nhất cho đoạn phim này, và những người cầm đầu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh với “Ngôi nhà Tuổi trẻ – Trung tâm chăm sóc, tư vấn sức khỏe sinh sản thuộc” cũng vô cảm. Họ không thấy có vấn đề nào hết khi đem cái clip này chiếu cho công chúng coi. Đoạn phim trên sau khi phổ biến còn được báo chí trong nước ca ngợi là “sáng tạo,” vì “thu hút khán giả trẻ.” Tất cả chứng tỏ căn bệnh vô cảm này đã lan khắp giới lãnh đạo Đoàn Thanh niên Cộng sản và guồng máy thông tin tuyên truyền của chế độ.
Tại sao đầu óc người ta lại vô cảm đến như vậy?
Vì hệ thống giáo dục, từ học đường tới gia đình, và cả xã hội. Tội nghiệp cho các cháu sinh viên ngoài 20 tuổi này. Chắc từ khi lớn lên các cháu không được tập thói quen kính trọng. Nghĩa là không có dịp tập sống với tấm lòng kính trọng đối với thế giới chung quanh mình. Các cháu biết Sợ nhưng không biết Kính. Hồi tôi còn nhỏ, cha mẹ tôi dậy mỗi khi ra đường gặp bất cứ cụ già nào cũng phải khoanh tay cúi đầu, chào đầy đủ ba tiếng: “Lạy cụ ạ!” Hồi đó, ở một làng quê phủ Thuận Thành, Bắc Ninh, những người trên 50 tuổi, chắc cũng được coi là các “cụ già” rồi. Thầy tôi dạy: Cư kính nhi hành giản, ăn ở kính cẩn, hành vi giản dị. Thủa bé tất nhiên là tôi sợ “Tây” càn quét rồi. Nhưng sau này nỗi sợ đó cũng biến mất. Còn thói quen kính cẩn đối với đời sống vẫn còn mãi mãi. Khi về ở Hà Nội, mỗi lần thấy một đám tang đi qua là chúng tôi phải ngưng mọi trò cười đùa, đứng lại, bỏ mũ, cúi đầu. Trong cuộc sống có những điều thiêng liêng, không thể bất kính.
Những người đầu tiên lũ trẻ chúng tôi tập kính trọng là các thầy, các cô giáo. Hai chục năm sau làm nghề dậy học tôi vẫn thấy học trò kính trọng thầycô như vậy. Thói quen kính trọng đã nhiễm rồi thì giữ được suốt đời. Bây giờ ở nước ngoài, có lúc các cựu học sinh Phan Thanh Giản, Chu Văn An, Phan Châu Trinh, Đoàn Thị Điểm, Bùi Thị Xuân, vân vân, họp mặt; các giáo sư phần lớn đã bỏ nghề, được các học trò cũ mời đến. Mà học trò đối với thầy cô vẫn kính cẩn, một thưa, hai dạ, mặc dù đám học trò giờ ở tuổi 70, còn thầy 80; hay học trò 50 đối với thầy 60 tuổi. Phải nói rằng, trong xã hội ngày xưa, các bạn trẻ có thể “nhìn lên” và thấy có nhiều thứ để kính trọng, học đường là chỗ đầu tiên. Nhiều học sinh Nguyễn Du đến giờ nhắc lại thầy hiệu trưởng Nguyễn Văn Ngọc thời 1970, vẫn thốt lời tôn kính một ông thầy trong sạch, tận tâm, không khuất phục, đáng làm gương suốt đời. Tấm lòng tôn kính thành thật, tự nhiên, đã thành một bản tính, không cần ai nhắc nhở hay ép buộc cả.
Lòng tôn kính tự nhiên đó phải được nuôi dưỡng trong tâm hồn thanh thiếu niên ngay từ nhỏ. Trong xã hội bây giờ chúng ta thiếu cơ hội chăm sóc, tập cho các bạn trẻ biết kính trọng, trước hết là kính trọng thầy, cô giáo. Lòng kính trọng có tác dụng ở hai phía. Trẻ em biết kính trọng thì cũng biết phải ăn ở sao cho đúng đạo lý. Người lớn, như các cụ già trong làng hay thầy cô trong trường, được kính trọng cũng tự nhiên phải giữ tư cách cho xứng đáng. Cả xã hội sẽ tốt đep hơn. Ngày nay, chúng ta thiếu không khí đó.
Trong cuốn hồi ức “NHÀ GIÁO: Một thời nhếch nhác,” nhà văn Nhật Tiến đã kẻ lại những kinh nghiệm sống “dưới mái trường xã hội chủ nghĩa” sau năm 1975. Đọc cuốn đó chúng ta có thể hiểu nền giáo dục sai lầm đã gây ra những thảm họa cho đất nước ra sao. Trước hết, nó phá tan mối quan hệ cổ truyền giữa học trò với thầy cô. Giáo sư Nhật Tiến kể có lần bắt gặp một cậu học trò lén hút thuốc lá, thầy dọa đùa là sẽ mách ông hiệu trưởng, có thể bị đuổi. Cậu học trò, con một ông làm lớn từ ngoài Bắc vào, trả lời: “Đuổi em đâu có dễ? … em biết hết gốc gác của lão ta rồi!” Cậu còn dọa sẽ tố cáo các vi phạm của ông hiệu trưởng. Khi học trò lấy người công an làm gương mẫu tập sống theo, thì không cần kính trọng ông thầy nữa. Trong khi đó thì nhà giáo vì hoàn cảnh chính họ cũng xuống cấp.
Nhật Tiến kể trong một cuộc họp tổng kết kỳ thi cuối năm, nhiều thầy cô cho biết học sinh của họ chỉ có 50% hay 30% đủ điểm lên lớp. Bàn cãi một hồi, ông hiệu trưởng trách mắng, đe dọa các nhà giáo, rồi quyết định: Thôi, cho chúng nó lên lớp 95% đi. Trường ta đang ở diện Tiên Tiến, thế là hợp lý rồi! Tất nhiên, các giáo viên phải sửa điểm. Thê thảm nhất là cảnh trong một lần phân phối thịt, hai thầy giáo đạp xe đuổi nhau tranh giành một miếng thủ lợn; cuộc chạy đua vòng quanh sân trường được tất cả mọi người chứng kiến. Học trò kêu nhau ra xem: Hai thầy dậy lớp Sáu tranh nhau cái đầu heo, tụi bay ơi!
Hiện nay phần lớn các giáo sư của nước ta đều là những người yêu nghề, muốn làm công việc dậy dỗ theo đúng lương tâm nhà giáo. Nhưng cả xã hội phải thay đổi thì mới phục hồi được không khí học đường cổ truyền. Nhật Tiến nhắc lại hình ảnh lũ học trò đi theo một cô giáo, vừa đi vừa vỗ tay, bêu riếu: “Cô giáo mất trinh!” nhiều lần. Ông tự hỏi: “Sự thể như thế thì nguyên do tại đâu, … nếu không phải là từ một xã hội ở đâu cũng thấy nịnh bợ, dối trá, nhu nhược hèn hạ, trong đó con người phải tự tước bỏ nhân phẩm để được sinh tồn?”
Lâu nay ở nước ta, người lớn cũng như trẻ em học được tính sợ hãi hơn là lòng tôn kính. Không còn cái gì là thiêng liêng nữa. Vì vậy, từ tấm bé, trẻ em tập biết Sợ mà không biết Kính. Các bạn sinh viên làm cái video clip bao cao su đã sống và được đào tạo như vậy.
Đây là một khác biệt căn bản giữa hai đường lối trị quốc trước đây 24, 25 thế kỷ, giữa Pháp Gia và Nho Gia. Khổng Nho chủ trương phải rèn luyện tâm hồn con người, lấy tu thân làm gốc. Pháp Gia chủ trương phải dùng hình phạt khiến dân sợ, kiểm soát chặt chẽ thì dân phải sống trong trật tự. Có những biện pháp được thử từ 2,200 năm trước, như chế độ hộ khẩu, là một sáng chế của Pháp Gia. Câu chuyện đoạn phim “Đường Tông” có thể coi là một lỡ lầm của một nhóm bạn trẻ. Nhưng người Việt Nam nhân đó thấy phải đặt lại một vấn đề rộng lớn hơn: Chúng ta muốn sống chung với nhau như thế nào?
Minh Nguyên
Bài kệ đầu tiên ấy, Thầy viết bằng chữ Hán trên giấy, từng nét chữ rõ ràng, trao cho tôi và nói:
Điệu hãy nhìn đây, bắt chước mà viết. Viết bên trái trước, bên phải sau, trên trước, dưới sau. Và Thầy liền đưa ngón tay viết ngay chữ “Phật” và chữ “Tâm” trên cát cho tôi xem, rồi Thầy lại xoá và viết tiếp chữ “Nhân và chữ Tâm” cho tôi xem; rồi Thầy lại xoá và viết tiếp chữ “Quán Phật” cho tôi xem, rồi Thầy lại xoá và lại viết chữ “Quán Tâm” cho tôi xem, rồi Thầy lại xoá và hỏi Điệu đã biết cách viết chưa?
Tôi dạ và thưa Thầy rằng: con thấy chữ “Quán” (觀)sao viết nhiều nét, khó nhớ và khó viết quá!
Thầy cười và nói: mới viết không mà đã thấy khó, huống chi là “Quán”! Nhưng, không sao, chẳng có gì khó cả, nếu đã quyết tâm!
Tôi dạ, Thầy nói: Điệu hãy bưng khay cát vào phòng, ngồi yên lắng một mình để tiếp tục viết và học đi!
Vâng lời Thầy, tôi bưng khay cát vào phòng ngồi một mình và bắt đầu đưa ngón tay viết chữ trên cát. Mắt tôi đăm nhìn từng nét, miệng lẩm bẩm “Phật” rồi xoá; cứ như thế tay tôi viết “Phật”, mắt tôi nhìn “Phật”, miệng tôi lẩm bẩm “Phật”, rồi đưa tay xoá cát; và đến lược viết chữ “Tâm” cũng vậy, rồi tôi viết ghép hai chữ “Phật Tâm”, mắt tôi nhìn “Phật Tâm”, miệng tôi lẩm bẩm “Phật Tâm”, “Phật Tâm”, “Phật Tâm”…, rồi xoá đi và viết lại.
Cứ như vậy mà viết, càng viết thấy lòng mình càng vui, thấy tay mình càng nhuyễn và chữ mình càng đẹp so với bước khởi đầu.
Và tôi lại viết ghép ngược lại, thay vì viết “Phật Tâm”, tôi lại viết “Tâm Phật”. Tay tôi viết “Tâm Phật”, mắt tôi nhìn “Tâm Phật”, miệng tôi lẩm bẩm “Tâm Phật”, cứ như vậy, hết viết đến xoá, hết xoá đến viết không biết bao nhiêu lần!
Trong quãng đời hành Điệu, Thầy tôi đã dạy tôi viết “Phật Tâm” trên cát, tôi không những vâng lời Thầy viết “Phật Tâm” mà còn viết ngay cả “Tâm Phật”, trên cát để cúng dường Thầy nữa.
“Phật Tâm và Tâm Phật” đã gắn liền với quãng đời hành Điệu của tôi.
Quãng đời ấy, là quãng đời của tôi có thật, nhưng xin quý vị đọc mà đừng tin, vì sự kiện ấy là của một thời gian đã đi qua, nó đã trở thành nắng mưa, sương gió, và mây trời đang rong chơi giữa cõi vô cùng, mà thực tại hiện tiện là quý vị đang đọc tôi viết “Phật Tâm và Tâm Phật” trên giấy mà không phải là trên cát…!
Thích Thái Hòa
Tạo dựng mùa xuân của đất trời là do đất trời quan hệ với nhau mà tạo thành. Sự oi bức và rắn rỏi của mùa Hạ, sự mát dịu và thanh đạm của mùa Thu, sự âm thầm và lạnh buốt của mùa Đông đều đã góp phần cho sự có mặt của mùa Xuân đầy sức sống và ấm áp để cho ngàn đóa hoa đua nở và để cho ngàn chim muông hát ca.
Nhìn Xuân ta không nhìn bằng đôi mắt đơn điệu mà phải nhìn sâu để hiểu thấu và để cảm nhận những gì mà Xuân đang hiến tặng cho ta.
Ta thường quen nghĩ mùa xuân hoa mới nở, nhưng thực ra trong trời đất bốn mùa đều có hoa nở. Mùa xuân có hoa Lan nở, mùa hạ có hoa Sen nở, mùa thu có hoa Cúc nở và mùa đông có hoa Hải Đường hay hoa Trà Mi nở. Trong bốn mùa, mùa nào cũng có hoa nở, nhưng liệu ta có nhận ra điều đó để nuôi sống và tạo nên thiên đàng hạnh phúc cho ta hay không!
Có khi ta sống giữa mùa xuân, nhưng ta lại đi tìm kiếm xuân, và cũng có khi ta đang sống giữa mùa đông, nhưng ta không lạnh lẽo, ta vẫn có chất liệu ấm áp của mùa xuân. Ta có mùa xuân trong cuộc sống của ta hay không là do khả năng quán chiếu và thực tập chánh niệm của ta. Ta thực tập chánh niệm càng nhuyễn và sâu, thì mùa xuân luôn có mặt trong ta.
Ta có chánh niệm là ta có khả năng lựa chọn những thức ăn thích hợp để nuôi thân và tâm ta.
Mùa xuân ta có thể ăn rau tía tô, mùa hạ ta có thể ăn rau diếp cá, xà lách, mùa thu ta có thể ăn măng và mùa đông ta có thể ăn giá, gỏi và gừng...
Thực phẩm hay rau trái của mỗi mùa, đều có tác dụng giúp cho thân thể ta tiêu thụ trong chiều hướng thuận hợp và khinh an, nếu ta biết chọn lựa.
Ta không có khả năng chọn lựa thực phẩm để nuôi dưỡng sự khinh an của thân là do ta sống không có chánh niệm. Ta sống không có chánh niệm thì ta không có khả năng tạo dựng mùa xuân cho ta và cho những người xung quanh ta.
Ta có thể tạo dựng mùa xuân cho ta bằng chất liệu Lắng Yên.
Lắng Yên là không lao xao, không vội vã, không bồn chồn. Nghĩa là khi ta nhìn, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc và nghĩ đến một cái gì thì chỉ là cái đó và ta bám sâu về cái đó để thấy và để hiểu. Nhờ vậy mà tâm ta được yên lắng. Do tâm ta yên lắng, nên ta có khả năng tạo dựng mùa xuân cho ta và cho những người chung quanh ta.
Ta có thể tạo dựng mùa xuân cho ta và cho những người chung quanh ta bằng chất liệu Soi Sáng.
Soi Sáng là thắp sáng và soi chiếu. Nghĩa là ta thắp sáng tâm ta lên không để cho tâm ta bị ngủ vùi ở trong bóng tối. Và nếu ta không có khả năng thắp sáng tâm ta lên thì ta cũng không có khả năng soi chiếu.
Tâm ta thường bị ngủ vùi ở trong những cảm giác, những tri giác, những tập khí của chủng tử và những nhận thức sai lầm.
Ta thắp sáng tâm ta lên bằng ý thức chánh niệm và ta soi sáng vào các cảm giác, tri giác, tập khí chủng tử và những nhận thức sai lầm ấy thì tức khắc những sai lầm của cảm giác, tri giác, tập khí, chủng tử và nhận thức của ta sẽ được chuyển hóa và chúng ta sẽ được thăng tiến trong một chiều hướng tốt đẹp. Và như vậy, ta đã tạo dựng được mùa xuân ngay từ nơi cảm giác, tri giác, chủng tử và nhận thức của ta. Ta có có khả năng tạo dựng mùa xuân cho ta, thì ta mới có khả năng tạo dựng mùa xuân cho những người chung quanh.
Ta cũng có thể tạo dựng mùa xuân cho ta và cho những người chung quanh bằng chất liệu Cảm Thông.
Cảm Thông là cảm nhận được nỗi đau của người cũng có thể là nỗi đau của mình, nỗi khó khăn hoặc bất hạnh của người cũng có thể là nỗi khó khăn và bất hạnh của mình, do đó tâm ta khởi lên sự thông cảm, tha thứ và bao dung. Khi tâm ta có chất liệu cảm thông là đời sống của ta không còn bị đóng khung ở trong một ốc vỏ khô cứng nghèo nàn. Ta có sự cảm thông là đời sống của ta bắt đầu giàu có, mùa xuân trong đời sống của ta không còn là hồn nhiên mà là mùa xuân trưởng thành, ta có thể xây dựng mùa xuân cho ta bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào. Đối với bất cứ ai, ta cũng đều có thể giúp cho họ tạo dựng mùa xuân cho chính họ.
Ta cũng có thể tạo dựng mùa xuân cho ta và cho những người chung quanh ta bằng chất liệu NẮM LẤY TAY NHAU.
NẮM LẤY TAY NHAU là ta hiện hữu. Ta hiện hữu với những gì có mặt chung quanh ta.
Mặt trăng, mặt trời đã mỉm cười và nắm lấy địa cầu để soi sáng, địa cầu đã mỉm cười và nắm lấy mặt trời, mặt trăng để chuyển động, bình minh và hoàng hôn đã nắm lấy tay nhau và giúp nhau có mặt, sông và núi đã giúp nhau và có mặt trong nhau và đã cùng nhau hiện hữu.
Ta không nắm lấy tay nhau là ta không còn hiện hữu. Ta không nắm lấy tay nhau là ta phản bội sự sống và ta phản bội chính ta.
Mùa xuân đã nắm lấy tay mùa hạ để đi và nắm tay mùa đông để về, và mùa thu nắm lấy tay mùa đông để đi và nắm tay mùa hạ để về, mùa Đông đã nắm lấy tay mùa xuân để đi và nắm tay mùa thu để về, mùa hạ đã nắm lấy tay mùa thu để di và nắm tay mùa xuân để về. Không những chúng nắm tay nhau để đi và về mà chúng còn hiện hữu ở trong nhau.
Ta cũng vậy, không những ta với mọi người, mọi loài hiện hữu trong nhau, không có người thương, ta không sống nổi đã đành mà không có nước uống, không có không khí, mặt trời, mặt trăng, biển cả, núi rừng, dòng sông... thì ta cũng không tài nào sống nổi.
Ta không nắm lấy tay nhau thì ta không thể sống và không thể nào tạo dựng mùa xuân cho ta và cho những người chung quanh ta. Khi nào ta biết nắm lấy tay nhau thì khi đó ta mới có khả năng tạo dựng mùa xuân cho nhau.
Ta cũng có thể tạo dựng mùa xuân cho ta và cho những người chung quanh bằng chất liệu CÙNG BƯỚC ĐI và CÙNG HÁT CA.
CÙNG BƯỚC ĐI và CÙNG HÁT CA, nghĩa là trong đời sống ta không thể dừng lại và vui một mình. Ta phải đi theo bước đi chung và ta phải vui trong niềm vui chung của mọi người.
Sống là gì ? Đó là cùng đi và cùng chuyển động. Và chết là gì? Đó là dừng lại tách rời và hình hài tan rã.
Ta không cùng bước đi, thì ta không thể hát ca vì không có âm thanh nào tự nó vang lên mà không có sự tác động của cái khác. Tiếng đàn không thể tự nó ngân lên từ cây đàn, nếu không có tác động của bàn tay người đánh đàn.
Hơi thở của ta cùng bước đi với trái tim, mạch máu, buồng phổi, dạ dày, lá lách, gan, ruột... của ta, nó chưa hề đi một mình. Âm thanh của ta cũng vậy, nó chưa bao giờ tự phát ra một mình, nó cùng đi với cổ họng, miệng lưỡi, hơi thở, trái tim, mạch máu, khối óc... của ta.
Ta hãy cùng bước đi và cùng hát với nhau. Ta không thể đi một mình và hát một mình, vì ta đi một mình và hát một mình, ta sẽ không tạo được mùa xuân cho ta và cho những người xung quanh.
Ngày 19 tháng 11 năm 2000 vừa qua, chị Hà Thanh từ Hoa Kỳ về, đến chùa Từ Hiếu thăm tôi, chị cùng chúng tôi bước đi và hát bài hát “Bên rừng nở rộ hoa mai” của thiền sư Nhất Hạnh. Chị vừa đi vừa hát và hát rất hay. Chị đã hơn sáu mươi tuổi, nhưng giọng hát và nét mặt đang còn trẻ. Bằng nét mặt, tâm hồn và giọng hát, chị đã tạo dựng một mùa xuân cho chính chị và cho những người chung quanh chị, mặc dù lúc đó thời tiết đang là mùa đông của Huế.
Thế kỷ 20, con người không chịu cùng đi và cùng hát ca với nhau, nên đã gây ra nhiều thảm họa và băng giá cho loài người.
Thế kỷ 21, nếu con người không biết nắm tay nhau, cùng bước đi và cùng ca hát, thì mùa xuân cũng không bao giờ có thực với chúng ta. Đất trời đã biết cùng đi với nhau để tạo dựng mùa xuân cho nhau và biết cho nhau mùa xuân, tại sao ta không biết cùng nắm tay nhau, cùng bước đi để tạo dựng mùa xuân cho nhau và cùng nhau hát ca nhỉ !
Uống trà là một thói quen của người Việt Nam từ xưa đến nay. Hình ảnh bộ ấm trà là biểu hiện sự thanh tao, hòa nhã, gắn kết. Một bình trà được rót cho sáu chiếc tách, một câu chuyện được sáu người chia sẻ, một giá trị được nhiều người cùng góp sức khởi tạo. Vì những giá trị cao quý ấy, bộ ấm trà luôn được chúng ta lựa chọn làm quà trao tặng trong những ngày lễ, dịp xuân về.
Tinh Hoa Đất Craft xin giới thiệu đến các bạn bộ sưu tập quà tặng BỘ ẤM TRÀ XUÂN NHÂM THÌN 2012. Sản phẩm được sản xuất từ làng gốm Bát Tràng nổi tiếng hơn 1000 năm ra đời và phát triển, kết hợp nét tinh hoa truyền thống và tính năng sử dụng hiện đại, là một món quà xuân vô cùng ý nghĩa để chúng ta bày tỏ sự tri ân, thâm tình với khách hàng, người thân, bạn bè.
Cùng gia đình chia sẻ niềm vui trong mùa xuân mới bên tách trà nồng ấm, cảm nhận ý vị cuộc sống đang nảy lộc, ước nguyện về một tương lại hạnh phúc, vẹn tròn.
Một món quà chúc Tết với giá trị mỹ thuật cao và công năng sử dụng nhiều tiện ích, hộp đóng gói sang trọng, sản phẩm ẤM TRÀ XUÂN 2012 luôn là sự lựa chọn quà tặng của bạn trong dịp chào đón xuân mới này.
Thông tin sản phẩm
- Màu sắc: Màu đất nung, họa tiết nổi cành đào, tráng men ngọc bên trong.
- Thông số kích thước:
+ Ly: H3cm x Dia 5cm
+ Khay chữ nhật: L20cm x W10cm
+ Khay tròn: Dia 17cm
+ Hũ trà: H14cm x Dia8cm
Đặc tính:
- Gốm Bát Tràng nổi tiếng với đặc tính giữ hương và nhiệt nước trà rất lâu, cho vị nước hậu ngọt khi thưởng thức trà.
- Là dòng sản phẩm cao cấp, có độ bền cao nhờ kết cấu tinh đất mịn từ nguồn phù sa Sông Hồng, nung gốm ở nhiệt độ 1000 độ C. Độ bóng và màu sắc sản phẩm không thay đổi trong quá trình sử dụng.
- Thật dễ dàng làm sạch sau thời gian dài sử dụng với lớp men ngọc được tráng bên trong ly trà.
- Tráng qua ấm trà bằng nước nóng.
- Cho một ít nước nóng vào, chờ các lá trà nở mềm, bạn tiếp tục đổ trà đầy ấm.
- Tráng một lớp nước nóng qua ly, sau đó rót trà vào ly và thưởng thức.
Không phải cứ tiệc tùng là ầm ĩ. Một chương trình mang tên Tiệc im lặng (Silent party) do nhóm các bạn trẻ tổ chức vào tháng 10 này mang một ý tưởng vô cùng thú vị: khách đến tham dự chỉ được thể hiện bằng ngôn ngữ hình thể mà không được dùng lời nói, với thông điệp giản dị “sự im lặng đôi lúc giá trị hơn bất kỳ lời nói nào”.“Trên thế giới có hơn 6.500 ngôn ngữ nói, tồn tại song song với nó là hệ thống các ngôn ngữ ký hiệu, cử chỉ hết sức phong phú. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học cho rằng, khi mọi người nói chuyện với nhau, chỉ có 7% thông tin thực sự đến từ ngôn từ, 35% được truyền tải qua ngữ điệu và có tới 55% lượng thông tin được diễn đạt qua cử chỉ. Vậy mà năng khiếu tiềm ẩn quý giá này dường như đã hoàn toàn ngủ quên trong một thế giới ngày càng nhiều cách thức giao tiếp”, Đỗ Thiên Hương, thành viên dự án Silent party chia sẻ.
Đó cũng là lý do Hương cùng các bạn của mình từ Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng, quen nhau từ các hoạt động xã hội, gồm có chuyên viên ngành xã hội học Thu Lành, chuyên viên ngành tiết kiệm điện Nhật Lâm, người làm trong lĩnh vực truyền thông Quốc Đạt… lên kế hoạch và ý tưởng cho một đêm gặp gỡ của sự im lặng.
Là một bữa tiệc dành cho mọi người, có đồ ăn, nước uống, chương trình kịch, trò chơi nhưng điều khác biệt ở đây là mọi thứ đều diễn ra trong im lặng. Im lặng ở đây không phải là sự câm lặng mà chính là cái cớ tốt nhất để mọi người tìm hiểu nhau bằng những nhịp điệu cơ thể. Một cái nhún vai, một nụ cười, một cái nheo mắt sử dụng đúng lúc sẽ mạnh mẽ hơn tiếng nói. “Chúng tôi mong muốn đem lại cho mọi người một trải nghiệm mới, một không gian phi ngôn từ”, Thiên Hương nói.
Các thành viên của câu lạc bộ Văn hoá người điếc TP.HCM chính là những người đã cùng các bạn trẻ trong dự án Silent party sáng tạo chương trình cho cuộc giao lưu, gặp gỡ đặc biệt này bởi chính họ là những người rất am hiểu ngôn ngữ ký hiệu, cử chỉ. Khi đến với chương trình, mọi người sẽ có dịp tìm hiểu những cách diễn tả, biểu đạt tình cảm, ý tưởng bằng ký hiệu do khoảng 20 thành viên thuộc câu lạc bộ Văn hoá người điếc hướng dẫn.
“Khi có ý tưởng về chương trình, chúng tôi liền tìm hiểu về ngôn ngữ cử chỉ và đặc biệt, khi tiếp xúc cùng các bạn điếc, tôi chợt nhận ra rằng chúng ta đang sống trong một thế giới quá nhiều âm thanh, tiếng động và ngày càng ít sắc thái biểu cảm trên khuôn mặt, trong cử chỉ. Đây chính là một thứ “ngoại ngữ” sẵn có trong mỗi chúng ta, hãy cố gắng đánh thức nó vì thứ kỹ năng phi – ngôn – từ này có thể giúp chúng ta hiểu nhau hơn, thậm chí giúp ta giao tiếp với những người khác màu da, văn hoá”, Thiên Hương chia sẻ.
Tiệc im lặng đã được tổ chức lần đầu tiên vào tháng 8 tại Hà Nội, thu hút hơn 300 khách tham dự. Toàn bộ số tiền thu được từ chương trình đã gây quỹ ủng hộ cho các em bé khiếm thính nghèo có một mùa Trung thu ấm áp. Tiệc im lặng diễn ra tại 2B/30 Bạch Đằng, quận Tân Bình, TP.HCM ngày 22-10 tới đây cũng không là ngoại lệ, khi toàn bộ số tiền thu được từ vé vào cửa của hơn 450 khách sẽ dành trọn vẹn cho việc giúp đỡ các bạn khiếm thính nghèo.
Không những thế, nhóm thực hiện dự án còn đang lên kế hoạch đưa Tiệc im lặng đến nhiều vùng khác nữa, xây dựng nên những chương trình giải trí mang tính xã hội, góp phần làm phong phú hơn những hoạt động của cộng đồng hơn 1 triệu người khiếm thính Việt Nam.
Nguyễn Trâm Anh
( SGTT)
Theo Nguồn: Loivesenno.com
TRÍCH: HOẰNG PHÁP 32: KHÔNG GIAN XANH
Cuộc sống ở nơi này đơn sơ như những đóa hoa cỏ vàng, tím mà ta thường gặp trên con đường đi mỗi sáng. Tuyđơn sơ nhưng chúng chứa đựng đầy đủ sự tươi mát của thiên nhiên, như giọt nắng, hạt sương của buổi sớmmai. Tiếp xúc với thiên nhiên thường mang lại cho tâm hồn ta một sự nhẹ nhàng, thư thái. Trong cuộc sống bậnrộn và hối hả mỗi ngày, đi từ nhà, ra xe, đến sở làm, chúng ta chỉ có dịp tiếp xúc với những con đường trải nhựa,những bãi đậu xe xi-măng, hay những tầng cao ốc che khuất bầu trời… Chợt có dịp nào đi trên những con đườngđất nhỏ giữa rừng cây và suối nước, trở về đồng quê yên bình mộc mạc, hay leo lên những ngọn đồi cỏ, nghe tiếngchim hót trong sương sớm và tiếng dòng nước chảy róc rách dưới chân đồi, hay nhìn một mặt trời đỏ buổi hoànghôn... ta cảm thấy được sự tĩnh lặng an nhiên của đất trời.

