Vô thường. Hai từ ấy thôi, mỗi lúc được nói lên là khiến cho những người có mặt gợi nhớ cảm giác gì thật rụng rời và mất mát.
Ngày xưa, mỗi lần tôi nghe hoặc nhớ nghĩ nhiều về vô thường, trong tôi cũng trào dâng cảm giác bất an, muốn chạy trốn, muốn vứt bỏ tất cả, thấy như mọi nguồn sống trong mình phút chốc bị chiếm đoạt, phút chốc tất cả như bị tê liệt, và phút chốc thấy ta trở thành tên nô lệ thật trớ trêu cho thân phận vô thường. Lúc đó, tôi chỉ là một chú bé cỏn con long nhong cùng lớp học.
Vô thường là một cái gì rất thật, rất hiện hữu, rất "thường" trong kiếp sống này. Nhìn vào đâu ta cũng dễ dàng bắt gặp. Vô thường trong mẹ trong cha. Vô thường trong ông bà tổ tiên. Vô thường trong từng loài từng vật. Vô thường trong chính ta. Vô thường làm cho mình mất đi tất cả.
"Vô thường làm cho mình mất đi tất cả", đó là cái nhìn thô sơ của tôi trong những ngày thơ dại. Vì cái nhìn cạn cợt đó, tôi đâm ra khổ đau, cuống cuồng, cố gắng níu giữ mọi thứ vào đáy sâu của chiếc rương tâm thức và bo bo giữ như những báu vật kỉ niệm, cố gắng ôm tất cả vào lòng để chúng đừng thất lạc. Nhưng đã là vô thường rồi, làm sao mà cất giữ cho được. Cái rương tâm thức kia cũng đâu có chịu đứng yên một chỗ để ta cất giữ và nắm bắt hết những gì mình muốn. Vạn vật đều vô thường hết, cảm giác lòng tôi lại trống trơn khi nằm yên một góc khuất nào đó mà gặm nhấm cái giờ phút mình không còn lại gì từ mình từ người từ vũ trụ, mất hết. Ủa, tại sao lúc đó mình lại không nghĩ được thêm một bước nữa nhỉ, rằng "vô thường làm cho mình có tất cả".
Thế rồi tôi phát tâm xuất gia, cũng từ lí do về những giằng co của cõi vô thường. Tôi không chịu nổi đời sống nhạt nhẽo của tôi mỗi ngày, học, chơi, ngủ, phá phách, vô tích sự. Nhìn những nấm mộ mọc lên ngày càng nhiều từ nghĩa địa phía sau lưng nhà, tôi không chịu nỗi cái viễn cảnh một hôm tôi cũng là tay sai của những nấm mộ. Tôi nghĩ, đi tu rồi mình sẽ thoát khỏi nợ vô thường. Thế Tôn sẽ cho tôi đời sống không bị vô thường chi phối, nội trong một tuần thôi, hay cùng lắm là nửa tháng, thế nào tôi cũng đạt được giải thoát cho coi.
Nhưng tôi đã lầm to rồi. Làm gì có sự chạy trốn trong thế giới này. Xuất gia rồi, một năm, hai năm, năm năm, mười năm, tôi càng ý thức rõ hơn vô thường là một thứ gì rất thật, có mặt khắp mọi nơi trong mọi lúc. Vậy thì nỗ lực tu tập để làm gì? Đâu thoát được gì đâu? Có khi tôi đâm ra ghét vô thường, ghét những gì cứ bị vô thường chi phối. Nhưng tôi vẫn mãi phải sống và trân tráo nhìn nó suốt không thôi. Tôi đã sử dụng hai từ này, vô thường, như một công án để trầm tư.

Theo thời gian, trong tận sâu tâm thức tôi, có cái gì gợi mở, để một ngày mưa tôi thấy chúng vỡ òa đầy xúc động. Cơn vô thường như biến thành những giọt nước mưa tưới tẩm và nuôi dưỡng muôn vạn loại.
Trong truyền thống đạo Phật, ta nghe từ vô thường xuất hiện một cách thường xuyên. Từ đây, có rất nhiều người khẳng định Phật giáo là bi quan, yếm thế, thụ động, không có tinh thần xây dựng và ru ngủ con người trong đêm trường tối tăm, là con đường của tuyệt vọng và vực thẳm. Nói như vậy thì oan uổng cho đức Thế Tôn quá. Mà đến bây giờ, vẫn còn rất nhiều người mang quan niệm đó, và cánh cửa đi vào an vui tự tại gần như đóng hẳn lại cho những ý thức hệ không vượt thắng tri giác sai lầm.
Vô thường là một sự thật, là một chân lý, là một nhân chứng rõ rệt hằn ghi trên vạn hữu. Có ai có thể chối cải sự thật đó? Ai có thể tìm ra được hiện tượng gì không bị vô thường chi phối? Trong giáo lý nào không thấy ở đó tiếng nói vô thường, chúng ta có quyền nghi ngờ và xét xem có phải là giáo lý đức Phật dạy hay không. Vô thường là một trong ba ấn tín xác nhận đó rõ ràng là giáo pháp của đức Phật. Hai ấn tín còn lại gồm Vô ngã và Niết bàn. Đó gọi là Tam pháp ấn.

Vô thường tức là trạng thái chuyển biến liên tục của vạn vật, trong đó có thân thể và tâm thức của chúng ta. Chúng ta phải có sự chuyển biến, phải có sự thay đổi thì chúng ta mới có sự lớn lên. Một bào thai không bị vô thường thì bào thai đó mãi hoài cứ nằm trong bụng mẹ, bào thai đó mãi hoài không ra khỏi bụng mẹ để thành một đứa trẻ, để lớn lên, để trưởng thành và để hoại diệt. Một rừng cây không chịu tuân theo luật vô thường thì mãi mãi chúng là những hạt mầm, hay mãi mãi chúng chỉ là một cây non, sẽ không bao giờ có những cánh rừng trưởng thành và sẽ không bao giờ chúng có khả năng tạo nên sự tiếp nối cho những thế hệ tiếp theo. Một Angulimala không vô thường thì Angulimala mãi mãi là một tên giết người không ghê rợn với đôi bàn tay luôn vấy máu, và Angulimala đó sẽ không có khả năng để chuyến hóa thành một chàng tu sĩ mà tình thương bao trùm lên tất cả loài vô tình lẫn hữu tình, Angulimala đó sẽ hoàn toàn không có khả năng tu tập để trở thành một đệ tử nổi tiếng trong các công hạnh tu tập. Vậy thì vô thường đáng mừng thầm, đáng hân hoan hay là nơi để mình trở về thở than, để tìm tin sống tuyệt đoạn?
Có một mùa thu, tôi đi học trên đường Lê Duẩn ở Huế, bỗng tôi phát hiện ra bao nhiêu là lá vàng đang chạy chơi trên đường cùng những tia nắng mai, đang thả mình từ hai hàng cây, đang cố đậu lại trên cành giữa vài sợi sương mỏng, cảnh tượng ấy thật diễm hoàng. Và mỗi ngày đi tôi đều thấy con đường ấy rất mới. Một đêm ngồi thiền, cảnh tượng những chiếc lá vàng mùa thu ấy tràn về, và tôi bắt đầu quán chiếu. Những chiếc lá ấy từng chỉ là những mầm non, từng là sự kết hợp mầu nhiệm của ánh sáng, của nước, của đất, của không khí, của những người trồng cây, cảu bao nhiêu thế hệ đi trước nữa... Chính sự luân chuyển trong vô thường đã làm chúng biểu hiện. Biểu hiện chỉ là biểu hiện, biểu hiện không có nghĩa là đến lúc đó chúng mới có mặt. Thật tế chúng đã có mặt từ bao giờ rồi. vũ trụ này sửa soạn có mặt thì chúng cũng đã nhen nhóm thành hình.
Chúng ta sinh ra và đã nghe bao nhiêu người nói đến vô thường. Vô thường được tiếp nối trong tâm thức ta từ dòng máu huyết thống tổ tiên, thử hỏi ta đã bao giờ đàng hoàng ngồi để suy gẫm thật kỹ về điều này chưa? Hay ta chỉ nghe, chỉ nhìn phớt qua cuộc đời rồi cũng triết lý  "đời là vô thường" như những chú vẹt? Nếu chưa thì ta phải làm, tùy từng trình độ mà ta sẽ thấy nó sâu sắc hay nông cạn, nhưng ít nhất nó sẽ sâu hơn là khái niệm ta chỉ nghe và nói theo từ những người khác. Vô thường không phải là một sản phẩm mà ta có thể nhìn thấy bộ mặt thật của nó từ khái niệm hay từ người khác. Chúng ta chỉ thật sự thấm nhuần khi tự thân quán chiếu và tìm ra "bản lai diện mục" của nó.

Đức Phật đã không ru ngủ cuộc đời, không khiến cuộc đời chết oan uổng trong mộng mị, không hứa hẹn một nếp sống an vui trong kiếp sống xa xôi nào hay là sau khi bước chân vào cõi chết. Vì thế đức Phật đã nói sự thật. Tất-đạt-đa đã dám đối diện với sự thật và bắt gặp sự mầu nhiệm của sự thật mà trước đây đã nhiều lần vị Thái tử này muốn chạy trốn. Vô thường là một sự thật. Khổ đau là một sự thật. Vạn vật nương nhau để cùng tồn tại, đã có mặt hết lòng cho nhau là một sự thật. Thái tử đã nhìn thấy ánh sáng, và đã thành bậc toàn giác, vượt lên sự trói buộc của những tri giác sai lầm, hòa vào sự thật và dung thông với sự thật. Mà sự thật này, đức Phật thấy, nó có mặt trọn vẹn và mầu nhiệm trong hết thảy chúng sanh, nhưng chúng sanh vì mê mờ mà đã không nhận ra và đã không thể sống với, giống hệt như một gã hành khất có viên ngọc vô giá nơi chéo áo mà không hề nhận ra để sử dụng. Và đức Phật quyết định thuyết pháp, quyết định chỉ cho chúng sanh thấy viên ngọc vô giá đó đang có trong mình.
Bài pháp đầu tiên Thế Tôn tuyên thuyết đã nói về sự thật của khổ, những nguyên nhân khiến khổ có mặt, sự hạnh phúc tự do khi thoát khỏi khổ và con đường diệt khổ để đạt được sự tự do hạnh phúc đó. Và sự thật khổ có mặt là do ta không thấy sự vận hành của các hiện tượng tức là không thấy được vô thường, cho nên khi thương yêu nhau mà phải xa nhau, khi ghét nhau mà phải đối mặt, khi sinh, già, bệnh, chết xuất hiện, khi ước mơ điều gì mà điều đó lại không thể thành tựu... thế là ta khổ đau. Đó là những con sóng lớn nhấn chìm ta xuống vực thẳm của tang thương. Thế là ta khổ? Mà tại sao lại khổ? Vì trong tâm thức ta, ta đã đặt để những quy ước sống và không muốn thay đổi. Ta muốn thương yêu nhau thì mãi mãi phải được ở bên nhau. Đã ghét nhau rồi thì quyết phải cự tuyệt không muốn chạm mặt. Ta không được già. Người thân ta không được chết. Ta cầu ước cái gì thì cái đó phải được thành tựu. Mà làm gì có sự đặt để của thế giới cực lạc như vậy trong cuộc đời này với tâm thức này. Ngọc Hoàng Thượng Đế e rằng cũng không hưởng được đời sống như vậy. Ước muốn một đời sống như vậy thì chẳng biết "thiểu dục tri túc" chút nào cả. Và nghĩ như vậy là đi ngược lại với hiện hữu của cuộc đời. Những thứ bị vô thường chi phối mà chúng ta cứ cho rằng nó là thường. Những gì nhờ nhân duyên kết hợp hình thành thì cũng sẽ vì nhân duyên mà tan rã, tức là vô ngã, vậy mà ta cứ đinh ninh hay khư khư cho rằng nó có một cái ngã bất biến. Đó chính là nguyên nhân của khổ đau, và đó chính là điều chúng ta phải quán chiếu cho thật sâu sắc. Quán chiếu là việc làm hết sức quan trọng để cho ta nhìn thấy sự thật, là việc làm cần thời gian, cần có một sự chú tâm nhất định. Rồi gút thắt sẽ được mở ra, và người quán chiếu sẽ nhìn thấy những thứ xưa nay chưa từng thấy dù điều đó luôn hiện hữu, sẽ dựng lại những gì bị chúng ta đốn ngã, sẽ mở ra những tâm thức khoáng đạt đầy hiểu biết mà lâu nay do sai lầm ta đã đóng kín cánh cửa sự thật đó. "Cửa bất tử sẽ mở ra cho những ngời nào đi đến", Thế Tôn đã từng tuyên bố như vậy.

Đi tu rồi, người tôi nhớ thương và lo lắng nhất là mẹ. Mẹ tôi là một người mẹ Việt Nam , một người đã hy sinh, đã tận tụy với đời sống. Mẹ đã sống vì ba, vì những đứa con. Mẹ lấy đó làm đời sống cho mẹ. Mẹ lấy đó làm hành phúc hay nỗi buồn suốt cuộc đời mẹ. Mẹ hóa thân trọn vẹn trong cuộc đời của ba, của các con mẹ. Trong mẹ có những tố chất điềm tĩnh nhưng cũng chứa nhiều những tâm thức lăng xăng bận rộn với công việc. Mẹ luôn ngủ sau và dậy trước. Ở chùa rồi, mà lâu lâu tôi cứ lo lắng cho bệnh tình của mẹ, cứ hỏi lòng không biết mẹ có được sống bình yên hạnh phúc hay không. Và nỗi sợ lớn nhất tôi nhận diện ra, là tôi sợ mẹ tôi chết. Nỗi sợ ấy có khi chạy thẳng cả vào trong giấc ngủ, khiến tôi hốt hoảng giật mình sau mỗi cơn mộng mị. Lội sâu vào lời dạy đức Phật, dần dần tôi thấy rõ hơn, có tâm lo lắng ấy cũng tốt, nhưng mà chưa đủ. Tôi lo cho mẹ tôi, mà trong thời gian ngồi lo lắng đó, có biết bao nhiêu bà mẹ trên đất nước Việt Nam , bao nhiêu bà mẹ trên cuộc đời đã nằm sâu trong lòng đất lạnh, tại sao ta không hề thấy có sự quan tâm nào? Hay tại vì tôi nghĩ họ không phải là mẹ của tôi, mà chỉ có một người mẹ của tôi mới là mẹ của tôi? Nghĩ như vậy thì tôi không hiểu chút gì về vô thường và vô ngã hết trơn.
Sự tác ý của tôi rộng lớn hơn từ đó. Mỗi lần tụng kinh, ngồi thiền, mỗi lần chia sẻ Phật pháp với một nhóm người nào, tôi đều tác ý tôi đang làm việc đó cho mẹ cho ba, cho hết thảy ba mẹ trên thế gian này, tại vì một kiếp nào xa xôi, tôi cũng từng là con cháu của họ. Đó là điều tôi tiếp nhận và tin tưởng chắc chắn được từ con mắt tuệ của đức Phật. Như thế thì khi mẹ còn sống, tôi sẽ sống hết lòng. Và rồi sau này dù mẹ có ra đi, tôi cũng không quá khổ đau hay hối hận vì đã không làm được gì báo đáp thâm ân nhũ bổ, tỗi đã sống hết lòng khi mẹ còn có mặt. Từ đó, một sự thật kỳ diệu nữa lại xuất hiện, tôi nhận ra mẹ, ba, người thân của tôi không bao giờ chết, họ sẽ tiếp tục sống dưới những hình thức khác trong dòng chảy vô thường này. Chúng ta thấy vô thường rồi, thì mỗi phút chúng ta sẽ sống thật ý nghĩa và có mặt với đời sống hết lòng hơn. Vì vô thường, nên biết đâu khi thức dậy, ta sẽ không còn có cơ hội nói lời cảm ơn, nói lời xin lỗi, nói lời yêu thương hay nhìn họ trọn trái tim được thêm một lần nào nữa. Chúng ta sẽ ý thức giá trị của hiện tại và an trú với hiện tại nhiều hơn, không còn dong ruổi nhiều cùng quá khứ và hão huyền chạy nhảy theo những sóng nắng mơ hồ tương lai. Hiện tại mới là sự sống.

Thấy vô thường, vô ngã như vậy chẳng những không mất mác gì mà còn cho ta cơ hội sống lớn lao và tròn đầy hơn nhiều. Ai bảo đó là cái nhìn và cách sống bi quan, yếm thế, rơi vào vực thẳm của tuyệt vọng được nữa.
Cái thuở ấu thơ ấy, tôi hay nghêu ngao hát "quê hương mỗi người chỉ một, như là chỉ một mẹ thôi" bằng cái cách đủ nghĩa của hăng say và tỏ ra thích thú lắm.
Ôi, quan niệm như vậy thì đâu có đúng. Cái thấy đó được tưới tẩm trong mỗi cá nhân thì dễ đưa tới chia rẽ, chiến tranh và đánh nhau lắm, đời sống tự nhiên sẽ nghèo nàn và mất hẳn tính vô lượng của nó. Tại sao ông tác giả nào đó lại không phát triển cái thấy của mình rộng ra mà viết để cổ động mọi người hát "quê hương là toàn vũ trụ, như mẹ có mặt mọi nơi", thế mới là cái nhìn tuệ giác và ta mới tiếp nhận hết gia tài giàu có mà ta có quyền được thừa kế và sử dụng chứ. Quê hương rõ ràng là chùm khế ngọt, là con diều bay giữa trời tự do, là con đường đi học nở đầy hoa dại, là những đêm trăng bình đẳng chiếu soi mà không thuộc về riêng ai... Mà quê hương cũng rõ ràng là toàn thể vũ trụ. Vũ trụ bao la đã góp tay tác thành, đã cùng nhau hội tụ huyết lực sinh ra cái khế cây cau, làm nên con đường cánh diều, tạo dựng con ong con bướm, bụi tre chiếc cầu. Quê hương đâu của riêng ai hay đâu là duy nhất.
"Cái này có mặt vì cái kia có mặt, cái này diệt vì cái kia diệt" nằm trong ý nghĩa đó, rất thật, rất rõ ràng chứ không phải chỉ là lời xác quyết suông mà chưa được thực chứng qua quá trình tu tập của bậc giác ngộ. Đó không hề là mĩ từ, không hề lạm ngôn, không hề ảo tưởng. Đó là sự thật, là điều hoàn toàn ta có thể cảm nhận được và sống với. Lớn lên, những lời dạy đầy kinh nghiệm yêu thương và trí tuệ của đức Phật đã cho tôi cái nhìn rộng rãi đó.
Núi Thứu bao giờ vẫn còn Phật điềm tọa thuyết pháp. Đức Phật cũng từng ghé thăm núi đồi Kim Sơn. Vô thường và Vô ngã và Niết Bàn và cái nhìn sâu sắc ba pháp ấn đã chứng minh cho sự thật đó.

Đồi Kim Sơn- Huế

image
"Nhờ đức hạnh mà con người mới trở nên hoàn thiện, thay cũ đổi mới, lấy thiện trừ ác. Nếu mỗi người cố công thực hành đức hạnh, thì quả địa cầu này trở thành Tịnh độ, và tất cả chúng sanh đều được an vui và hòa hợp trong tình người, tình dân tộc, quê hương đất nước..."

Phật pháp luôn mang lại cho chúng ta những bông hoa “đức hạnh “để đón chào một cội nguồn tâm linh siêu thoát và mùa xuân bất diệt.

“Đức hạnh” hai tiếng nghe sao mà ngọt ngào, êm dịu thế! Có được đức hạnh không phải là chuyện dễ, bởi vì con người ai cũng có Phật tánh nhưng nó luôn bị kìềm chế bởi tham sân si. Con người là sự hợp thành của các duyên, nhưng nó vẫn hàm tàng một thế giới tâm linh huyền bí với nhiều tiềm năng phi thường, và có hai năng lực trái ngược nhau: Một cái hướng về cao thượng trong sạch đặc tính của Thánh nhân, và một hướng về những điều tội lỗi dơ bẩn của phàm phu thấp kém. Như trong Kinh đức Phật dạy:

“Chính ta làm trong sạch,
Chính ta làm nhiễm ô”.

Hai tiềm lực này luôn luôn nằm trong ta nhiều hay ít, mạnh hay yếu tùy trường hợp. Người biết vun bồi đức hạnh là một phước lành cho nhân loại, kẻ bị tật xấu chi phối là một đại họa. Phật pháp là tinh hoa đem lại cho những ai muốn vượt lên trên số đông giữa quần chúng, phục vụ nhân loại không những bằng cách sống cao thượng và gương mẫu mà còn ban bố những lời dạy hữu ích. Những ai muốn tận dụng cơ hội quý báu được sanh làm người đều hết sức gia công gột rửa những tật xấu và phát triển những đức hạnh đang còn tiềm ẩn và ngủ ngầm trong tâm thức họ. Con người chúng ta dù trai hay gái, sang hay hèn đều có thể cố gắng và nhẫn nại trau dồi đức hạnh quý báu của mình; vì đó không phải là một di sản do cha ông để lại.

Chỉ có đức hạnh mới xóa bỏ lòng sân hận; đó là một thái độ nhẹ nhàng êm dịu cảm thông, bao dung, độ lượng, nhân từ… Nếu thực hành đức hạnh thì con người sẽ trở nên cao thượng tuyệt nhân như những vần thơ dưới đây:

“Với gấm vóc, hương trầm bảo vật,
Cùng trăng thu vằng vặc ánh vàng,
Nhẹ nhàng gió mát đêm trường,
Cũng không xoa dịu nỗi lòng thâm sâu.
Chỉ đức hạnh trong ngần cao quý,
Mới vững bền tiết chế lòng người”.

Chỉ có lòng từ bi mới tiêu trừ được hung ác và tàn tạo của con người. Phương thuốc mầu nhiệm và công hiệu nhất để chữa trị các bệnh ganh tị đó là hỷ xả.

“Chỉ có đức hạnh khôn cùng,
Gột tan ác ý, rửa dần mê tâm”.

Nhờ đức hạnh mà con người mới trở nên hoàn thiện, thay cũ đổi mới, lấy thiện trừ ác. Nếu mỗi người cố công thực hành đức hạnh, thì quả địa cầu này trở thành Tịnh độ, và tất cả chúng sanh đều được an vui và hòa hợp trong tình người, tình dân tộc, quê hương đất nước.

Bến đức độ rộng lớn bao la vì Từ Bi, Hỷ Xả không bờ bến, không ranh giới và cũng không hạn định. Tứ vô lượng tâm này rất bình đẳng, nó bao trùm tất cả chúng sanh không từ bỏ một sinh linh nhỏ bé nào.

Từ, Bi, Hỷ và Xả rất là vô lượng, vô biên. Chúng ta là người con Phật thì phải tinh tấn trau dồi đức hạnh ấy để tạo cho mình một cuộc sống an lạc và dẫn dắt tha nhân để cùng nhau đi trên lộ trình giải thoát đó. Đúng như những vần thơ dưới đây, nó bộc bạch rất chân chất và thắm tình đạo vị giữa kiếp nhân sinh của phàm phu và thế giới tâm linh mầu nhiệm của bậc Thánh.

“Đời đạo hạnh tinh hoa giới đức,
Không điểm tô trang sức chi hơn,
Mà luôn sáng tỏ vô ngần,
Chỉ nơi đức hạnh rõ ràng hào quang,
Nào vua chúa ngọc vàng lóng lánh,
Nhường mờ lu bên ánh rạng này”.

Diệu Khánh

Vẫn một áng mây

Muôn vạn lần ta đã đến đây

Quanh năm suốt tháng

cõi nhân gian này

Không có có không chỉ một ngày

Có không không có chỉ một giây

Tiếng cười mới vui

Rồi tiếng khóc

Trên tầng không vẫn một áng mây

Mừng mừng tủi tủi ta gặp nhau

Tủi tủi mừng mừng ta xa nhau

Ngày tháng trôi mau

Nào ai biết?

Bãi biển nay thành nương dâu

Ai có hay?

Trên tầng không vẫn một áng mây

Sinh ly tử biệt

Trò nhân thế

Sang giàu nghèo khó

Chuyện thế nhân

Cửa vui luôn mở rộng đêm ngày

Trên tầng không vẫn một áng mây

Pháp Nhật

tungcanh

Ông chủ Facebook “hành bồ-tát hạnh”

Ông chủ Facebook có thể mất chức không lí do shopping entertainments


Tỷ phú trẻ nhất nước Mỹ, Mark Zuckerberg, cam kết tham gia và hiến phần lớn tài sản của mình cho sự nghiệp từ thiện. Chàng trai chủ nhân của mạng xã hội Facebook 26 tuổi này đã làm cả thế giới chú ý tới không chỉ vì trí tuệ và tài năng trẻ phục vụ số đông của anh, mà anh còn là hiện tượng của sự dấn thân vào những công việc khó làm –hiến tài sản làm từ thiện– ở độ tuổi và sự nghiệp đang phất. Phật giáo xem sự dấn thân như thế là bồ-tát hạnh, là công hạnh vì lý tưởng lợi tha của người Phật tử Đại thừa. Nhìn một Phật giáo phi hình thức, người Phật tử có thể thấy được vai trò đích thực của tư tưởng Phật giáo không nằm ở tôn giáo, mà nằm ở hành động. Tôi xin thông qua nhân vật Zuckerberg để làm sáng tỏ tư tưởng này của Phật giáo.

Việc xem tỷ phú Zuckerberg “phát bồ-đề tâm, hành bồ-tát hạnh” nghe ra có vẻ khó chấp nhận đối với người Phật tử, bởi những khái niệm này vừa là thuật ngữ vừa là lý tưởng của Phật giáo Đại thừa lại được gán cho một chàng trai người Mỹ gốc Do Thái. Nhưng kỳ thật, ‘bồ-đề tâm’ cũng như ‘bồ-tát hạnh’ không mang một ý nghĩa tín ngưỡng tôn giáo gì cả. Nó biểu đạt một lối sống của người đi tìm kiếm hạnh phúc thông qua sự nghiệp tạo dựng hạnh phúc cho người khác.

Bồ-đề tâm phát xuất từ chữ ‘bodhicitta’, là một thuật ngữ của Phật giáo Đại thừa. ‘Bồ-đề’ là phiên âm của chữ ‘bodhi’ (tiếng Pali/Sanskrit), nghĩa là ‘giác’, ‘giác ngộ’, ‘tuệ giác’, tức là hiểu biết các pháp một cách rốt ráo, không có chấp thủ. Bodhi là quả vị giác ngộ tối thượng mà đức Phật đã chứng đắc dưới gốc cây Assattha mà sau đó cây này được gọi là cây Bodhi (Bồ-đề). Bồ-đề tâm (bodhicitta) do đó có thể được hiểu là tâm giác ngộ. Đối với chư Phật, nó là thực tại; còn đối với chúng sanh, nó cần phải được phát huy, cho nên được gọi là ‘phát tâm bồ-đề’. Người phát tâm bồ-đề cần hiểu rõ rằng bồ-đề sẵn có trong mỗi chúng sanh và sẽ hiện rõ khi màn vô minh được vén lên. Điều này muốn nói đến tánh giác trong mỗi chúng sanh. Trong văn học Phật giáo Nguyên thủy (Pali), từ tương đương của bồ-đề tâm có lẽ là ‘pabhassara citta’, nghĩa là ‘tâm sáng chói’. Kinh Tăng Chi chép: “Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói, nhưng bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào” (A.i, 9). Như vậy, phát tâm bồ-đề có thể được hiểu là hướng tâm đến sự thanh tịnh sáng chói vốn có (của tâm), và cũng tức là hướng tâm đến sự giác ngộ bồ-đề (bodhi).

Với ý nghĩa Bồ-đề như vậy thì tỷ phú Zuckerberg phát bồ-đề tâm như thế nào? Trước hết chúng ta cần xác định rằng Phật giáo chỉ quan tâm đến con người và tâm người, mà không có một sự phân biệt nào liên quan đến giai cấp, sắc tộc, tôn giáo, v.v. Và hành động hay nghiệp (karma) được xem là chủ trương của Phật giáo với mục đích là làm thanh tịnh ba nghiệp thân, khẩu, ý (việc làm, lời nói, ý nghĩ). Đây là con đường đưa đến sự đoạn tận tham, sân, si, thành tựu quả vị bồ-đề. Nói cách khác, quả vị bồ-đề có thể chứng đắc nếu hành trì đúng pháp (tức là làm thanh tịnh ba nghiệp, đoạn tận tham, sân, si), mà không tùy thuộc vào một quan điểm hay danh xưng nào. Trung Bộ Kinh, số 126, nói rằng “dù có nguyện vọng hay không, việc hành trì Phạm hạnh một cách chánh đáng thời đạt được quả vị.” Với chủ trương hành động như thế, tỷ phú Zuckerberg cũng có thể không ngoại lệ, và có lẽ đang đi trên đạo lộ ấy.

Như đã nói, chướng ngại của bồ-đề chính là vô minh và các cấu uế từ bên ngoài vào, được hiển thị qua thân, khẩu, ý. Và Zuckerberg dường như đang thăng hoa cuộc sống khi từng bước vén màn vô minh và buông bỏ các cấu uế ngoại lai ngang qua những việc làm của mình. Quả thực, mức độ hạnh phúc hay khổ đau của con người tùy thuộc ít hay nhiều vô minh và cấu uế ngoại lai ấy.[1] Càng ít vô minh (tức trí tuệ càng nhiều) chừng nào thì người ta càng dễ dàng buông bỏ những cấu uế ngoại lai chừng ấy, và ngược lại.

Có thể Zuckerberg không hề biết hay nghĩ đến danh xưng ‘bồ-đề’ hay ‘chánh giác’ gì cả, nhưng những thăng hoa hạnh phúc trên đạo lộ buông bỏ của anh (mà người Phật tử gọi là đạo lộ đưa đến bồ-đề) thì không thể phủ nhận. Việc Zuckerberg dấn thân làm từ thiện là một biểu hiện của sự buông bỏ như thế, và đặc biệt là tìm thấy hạnh phúc thông qua việc xây dựng hạnh phúc cho người khác. Như vậy là anh đã phát bồ-đề tâmhành bồ-tát hạnh (nói theo ngôn ngữ Phật học) trong ý nghĩa đích thực của nó mà không cần một danh xưng nào hết. Tuy nhiên, con đường đạt đến đích bồ-đề theo Phật giáo Đại thừa là một hành trình dài và đòi hỏi một tâm vị tha và kiên định, những yếu tố mà hiện tại ít nhiều anh đang có.

Khái niệm “Bồ-tát hạnh” có nguồn gốc từ văn học Phật giáo Nguyên thủy, được minh họa rõ nét nhất qua tập Bổn Sanh (Jātaka –Chuyện Tiền Thân Đức Phật). “Bồ-tát” trong thời kỳ văn học này là danh xưng được sử dụng chỉ cho đức Phật trong nhiều kiếp trước, “khi Ngài chưa thành Phật, còn là Bồ-tát”. Qua đó, Bồ-tát được thấy đã sống trong nhiều kiếp dưới nhiều hình thức khác nhau, không chỉ làm người mà còn làm chim, làm thú… Điều đáng quan tâm là, dù ở trong sanh loại nào, Ngài đều thể hiện một tính cách thông minh, năng động và sáng tạo trong cách ứng xử để bảo vệ chân lý và lợi ích cho số đông. Có nhiều mẩu chuyện cho thấy Ngài đã hy sinh thân mạng của mình vì sự bình an và hạnh phúc của đồng loại. Tất cả những việc làm này của Ngài được gọi là “bồ-tát hạnh” có đủ trí tuệ và từ bi, và là tấm gương đạo đức gần gũi với con người. Khái niệm “bồ-đề tâm” chưa xuất hiện trong thời kỳ văn học này.

Trong Phật giáo của thời kỳ sau, bồ-tát hạnh được ứng dụng một cách linh hoạt như là tư tưởng quan trọng của Đại thừa. Người Phật tử Đại thừa hành bồ-tát hạnh dường như muốn noi theo những việc làm mà chính đức Phật đã làm khi Ngài còn là Bồ-tát, chứ không phải noi theo những giáo pháp được Ngài thuyết giảng sau khi Ngài thành Phật. Họ nhận thức rằng đức Phật đã từng luân chuyển trong thế giới luân hồi như bao nhiêu chúng sanh khác, nhưng nhờ những công hạnh như thế Ngài mới chứng được quả vị Bồ-đề. Trên cơ sở đó, ai cũng có khả năng thành tựu bồ-đề nếu họ thực hành bồ-tát hạnh như Ngài.[2] Người Phật tử Đại thừa hành bồ-tát hạnh luôn luôn tâm niệm như vậy.

Tuy bồ-đề là lý tưởng, là đích đến của bồ-tát hạnh, nhưng trên thực tế, chỉ có hành động mới thật sự được quan tâm và là nội dung hai đặc tính của bồ-tát hạnh, đó là từ bitrí tuệ. Những đặc tính này chắc chắn không phải không có trong Zuckerberg.

Với quan điểm hành động như thế, việc Zuckerberg hành bồ-tát hạnh là điều có thể nhận thức được. Nếu bồ-tát hạnh được thực thi chỉ vì mục đích thiết thực là cứu khổ, ban vui mà không vì một học thuyết hay giáo lý nào từ kinh điển, thì bồ-tát hạnh là những hình thái từ thiện chân chính được thấy trong thế giới chúng ta, và nó không bị hạn cuộc trong một học thuyết tôn giáo nào. Mặc dù lòng trắc ẩn và tình người là động cơ ban đầu cho hành động của họ, nó có thể dần dần trở thành một lý tưởng nếu được un đúc và tích tập lâu dài. Quả thật, có người đã quên mình hay hy sinh mình để giúp người khác. Lý tưởng như thế có thể chăng đang ở trong một mức độ nào đó của bồ-đề tâm mà một Phật tử hành bồ-tát hạnh đang thực hành? Chúng ta cần đặt qua một bên các quan điểm tín ngưỡng để nhận ra những giá trị đích thực của việc giúp đời cứu người mà Zuckerberg và nhiều người khác đã dấn thân.

Sống trên đời, dù trong hình thức nào, ai cũng mong cầu và tìm kiếm hạnh phúc. Nhưng vì quan niệm về hạnh phúc không giống nhau nên con người có những khuynh hướng tìm cầu hạnh phúc khác nhau: hoặc vật chất, hoặc tinh thần, hoặc cả hai. Tuy nhiên, do hạnh phúc là một trạng thái thuộc tâm hay tâm lý, nên khó có một định nghĩa hạnh phúc thỏa đáng. Phật giáo không trực tiếp định nghĩa hạnh phúc, mà chỉ xác định rằng khi nào không có khổ thì khi đó có hạnh phúc. Đó là lý do Phật giáo nhằm chỉ ra sự thật khổ mà con người đối diện, rồi chỉ ra nguyên nhân của nó để đoạn trừ. Nguyên nhân của khổ được nói chính là “tham ái”, đưa đến chấp thủ: cái này ‘là của tôi’, ‘là tôi’, ‘là tự ngã của tôi’. Để đoạn trừ tham ái và chấp thủ ấy, phương pháp thường được Phật giáo Đại thừa nhiệt tình khích lệ là hãy sống buông bỏ vì hạnh phúc của người khác, hãy hy sinh lợi ích của riêng mình cho đến chỗ vô ngã (chỉ còn hành động hy sinh mà không thấy có mình trong đó). Phật giáo Nguyên thủy cũng cho rằng làm lợi ích cho mình là làm lợi ích cho người khác, và ngược lại. Kinh Tương Ưng (S.v,168) dạy: “Trong khi hộ trì cho mình, này các Tỷ-kheo, là hộ trì người khác. Trong khi hộ trì người khác, là hộ trì cho mình.” Phật giáo cho rằng không có một cái gì tồn tại độc lập trong cái thế giới duyên sinh này.

Hạnh phúc thực chất là tất cả những gì trong thế giới xung quanh ta. Một nỗi buồn nào đó bỗng nhiên ập đến khiến cho tất cả những niềm vui đang có vụt biến mất.

Giàu có thôi vẫn không đem lại hạnh phúc. Liệu tầng lớp giàu có ở Trung Quốc có an lòng không khi đối diện với thống kê rằng người dân Trung Quốc không kính trọng họ? Theo Lu Xueyi, nhà nghiên cứu của Viện Khoa học xã hội Trung Quốc, các nhà triệu phú nước này có “cảm giác bất an” là “do xu hướng của xã hội vừa ghét vừa ghen tị với những người giàu.” Đây thật ra chỉ là đánh giá bề ngoài. Vấn đề căn để là ở chỗ “Họ có chánh mạng không (cách làm giàu)?” và “Họ có lòng trắc ẩn đối với tầng lớp nghèo khổ không?” Nói cách khác, trong mắt người dân, cách làm giàu và cách sử dụng đồng tiền của họ là không đáng được kính trọng. Thật là không ổn khi tìm thấy hạnh phúc của mình trên khổ đau của người khác. Nếu họ có hạnh phúc thì ắt hẳn đó là những thứ hạnh phúc vị kỷ, đê tiện và tạm bợ; còn sự bất an thì lại quá rõ ràng khi họ luôn mang trong mình tâm trạng rằng thế giới xung quanh đang rình rập. Tự đặt mình biệt lập với con người và thế giới xung quanh, người ta càng cảm thấy hoảng hốt và bi thảm khi kết thúc cuộc đời bằng nhận thức rằng tất cả (những gì ‘của tôi’, ‘là tôi’) đều trở thành của ‘thiên hạ’. Sống một cuộc sống bất an thì chết cũng chẳng lành.

Zuckerberg đã làm giàu bằng chính công sức và trí tuệ của anh (chánh mạng), đồng thời sẵn sàng mở lòng san sẻ những gì anh có cho người khác; cả hai mặt, anh đều đáng được tôn kính.

Anh hẳn đã hơn người trong việc tìm cầu hạnh phúc. Hạnh phúc của anh không dừng lại ở sự giàu sang và hưởng thụ; hạnh phúc của anh không dừng lại ở tuổi trẻ tài cao; hạnh phúc của anh không dừng lại ở đứa con cưng Facebook; hạnh phúc của anh không dừng lại ở danh tiếng trọng vọng; và có lẽ hạnh phúc của anh cũng không dừng lại ở công tác từ thiện. Nhưng anh có tất cả. Và tất cả đã tạo ra cho anh một hạnh phúc bao la, không biên giới.

Có lẽ đối với anh thế giới này là một thực thể duyên sinh nên anh đã và đang tìm cách kết nối thành một mối tương quan sinh tồn, điển hình được thấy qua mạng xã hội Facebook mà anh làm chủ, cũng như qua công tác từ thiện mà anh đã dấn thân. Nếu nhìn được như vậy, anh đúng là đang thực hành bồ-tát hạnh, và lấy con người và thế giới này làm môi trường tốt để nuôi dưỡng cho mình một hạnh phúc cao cả.[3]

Không phải vô cớ mà chàng trai 26 tuổi Zuckerberg được tạp chí Time (Mỹ) ưu tiên dành cho danh hiệu “Nhân vật của năm 2010” dù tên tuổi của anh được truy cập trên xa lộ thông tin online thua xa Julian Assange, chủ trang Wikileaks, người đã làm xáo trộn ngoại giao quốc tế. Điều này cho thấy cái thiện được tôn vinh. Đáng nói là danh hiệu đó của anh được hầu hết cư dân mạng tán đồng và hết lòng ngưỡng mộ. Hạnh phúc chân thật đang chào đón những ai sống với tâm từ bi và trí tuệ như ông chủ Facebook này.

Thích Tâm Hạnh

(Văn hóa Phật giáo, số 137)

Ông chủ FacebooK Zuckerberg ở Việt Nam

Mark Zuckerberg còn cưỡi trâu ở Sa Pa -VN

[1] Cấu uế ngoại lai là những pháp sanh khởi do sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) đưa đến những cảm thọ vui - buồn, lạc - khổ, ưa - ghét, v.v. Những pháp ấy hoặc bị tham đắm hoặc bị ghét bỏ do được ưa thích hoặc không được ưa thích; hay nói cách khác chúng là điều kiện làm phát khởi tham, sân, si. Con người do vậy trở thành bị trói buộc và vầng quanh các cảm thọ vị kỷ và các chấp thủ cá nhân. Những pháp như thế do duyên từ bên ngoài mà có, nên chúng được gọi là những cấu uế từ ngoài vào. Việc buông bỏ bất kỳ những gì ‘mình có’ chính là buông bỏ cấu uế từ ngoài vào, và đó là con đường đưa đến chứng đắc bồ-đề. Buông bỏ tỷ lệ nghịch với trói buộc và tỷ lệ thuận với thăng hoa hạnh phúc.

[2] Quan điểm này dẫn đến hai mục đích trong tư tưởng Bồ-tát hạnh của Đại thừa: “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh.”

[3] Quan điểm này được mô tả trong Kinh Hoa Nghiêm: “Chúng sanh là nơi nương tựa của bồ-tát hạnh.”

Nhng ngày cui năm, khí hu đt ngt bt thường. Mưa, gió, bão, tuyết, chng còn biết đâu là Xuân, H, Thu, Đông na. Ngi trong am tht, tôi đành m cái máy sưởi cũ, hoan hvi âm thanh khò khè, rên r ca nó còn hơn là chu lnh. Hnh phúc chán!

Pha ly trà nóng để cầm cho ấm tay, uống cho ấm bụng, rồi ngồi vào bàn viết, mở máy, đọc báo “cọp” trên Internet. Bài đầu tiên nhìn thấy là của nhà báo Trần Khải, với những giòng“Không biết thế giới đã từng có thời nào người ta ngẩng đầu lên chỉ thấy mưa hoa khắp trời hay không; nhưng thời của chúng ta thì chỉ thấy phi tiêu rợp trời. Sơ sẩy một chút là trúng ngay phi tiêu liền, mà không hề thấy được phe nào phóng ra và nhắm vào phe nào. Trời ạ, cứ lên Internet mà xem, phi tiêu bắn như mưa, còn hơn là trong truyện Cô Gái Đồ Long …”

Nội dung bài báo nói về “phi tiêu rợp trời”, nhưng người đọc như tôi, đọc qua đoạn này lại chỉ mơ màng ở câu “mưa hoa khắp trời”. Thế là, tôi tạm ngưng đọc báo, mời bạn cùng uống trà với tôi đây.

Nhà báo thắc mắc không biết thế giới đã từng có thời nào người ta ngẩng đầu lên chỉ thấy mưa hoa khắp trời hay không, nhưng không nói rõ thế giới nào? Còn bạn, tôi chắc bạn biết khá nhiều về những thế giới đầy mưa hoa đó, phải không? Bạn hãy dùng trà cho ấm đã, vội vàng chi.

Bảy trăm Tỳ-kheo và bốn trăm Tỳ-kheo-ni đang trên đường đến vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, nơi Ưu Bà Di Hằng Hà Thượng đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin giải vài nghi hoặc:

“- Bạch Đức Thế Tôn, nếu hỏi hóa nhơn rằng người từ đâu đến? Hỏi như vậy thì phải trả lời như thế nào?

- Này Ưu Bà Di, luận về hóa nhơn, không có vãng lai cũng không sanh diệt thì đâu nên nói là có chỗ từ đó mà đến.

- Bạch Đức Thế Tôn, nếu tất cả pháp như hư không, sao Đức Thế Tôn lại nói có các sắc, thọ, tưởng, hành, thức cùng các giới xứ mười hai nhơn duyên hữu lậu vô lậu là nhiễm, là tịnh, là sanh tử Niết Bàn?

- Này Ưu Bà Di, như nói rằng: ngã, dầu có lời nói, mà thiệt không có ngã- tướng để được. Ta nói các sắc, cũng thiệt không có sắc- tướng để được nhẫn đến, nói Niết Bàn, cũng không có Niết- Bàn- tướng để được.

- Này Ưu Bà Di, trong pháp của ta, những người tu phạm hạnh, thấy tất cả pháp đều vô sở đắc mới được gọi là người chơn tu phạm hạnh. Còn người tăng thượng mạn nói hữu sở đắc thì chẳng gọi là an trụ chơn phạm hạnh. Loại người đó, nghe thâm pháp này sanh lòng kinh nghi nên chẳng giải thoát được …(*)

Ngài Ưu Bà Di Hằng Hà Thượng hỏi mười hai câu hỏi, được Đức Thế Tôn lần lượt chỉ bày rồi truyền dạy Tôn giả A Nan:

“ Này A Nan, ta nhớ quá khứ có ngàn Đức Như Lai cũng ở tại xứ này nói pháp như vậy. Kinh này tên là Vô Cấu Thanh Tịnh, các ông nên thọ trì” (*)

Nghe tới đây, Chư Thiên cõi Dục đem muôn thứ hoa trời rải như mưa trên kim thân Đức Phật, bảy trăm Tỳ-kheo và bốn trăm Tỳ-kheo-ni đều dứt hẳn các lậu tâm, Hằng Hà Thượng Ưu Bà Di và hàng đại chúng Thiên Long Bát Bộ đều rất đỗi hoan hỷ, đón nhận mưa hoa và tín thọ phụng hành.

Bạn hiền ơi, chờ tôi châm thêm trà rồi chúng ta cùng giở Kinh Địa Tạng nhé.

Đây rồi, chúng ta sẽ lại thấy mưa hoa khi Ngài Địa Tạng bạch Đức Thế Tôn là trong đời sau, nếu có người thiện nam, kẻ thiện nữ nào, đối với Phật pháp mà có lòng cung kính thì Ngài sẽ dùng mọi phương tiện độ thoát người đó. Khi ấy, trong pháp hội có vị Bồ Tát tên là Hư Không Tạng xin chỉ bày rõ hơn về oai thần thế lực chẳng thể nghĩ bàn của ngài Địa Tạng Bồ Tát. Đức Phật bèn dạy rằng, trong đời sau, kẻ nào thấy hình tượng của ngài Địa tạng Bồ Tát , nghe kinh rồi đọc tụng sẽ được 28 điều lợi ích; nghe danh hiệu của Ngài rồi đảnh lễ hình tượng sẽ chứng nghiệm được thêm bảy điều lợi ích nữa. Những điều lơi ích này đều là sức oai thần lớn chẳng thể nghĩ bàn của ngài Địa Tạng Bồ Tát, do chính Đức Thích Ca Mâu Ni ngợi khen và tuyên bày nên “Chư Thiên từ cung trời Đao Lợi đã vô cùng hoan hỷ, rải vô lượng hương hoa, thiên y, chuỗi ngọc để cúng dường Đức Thích Ca Mâu Ni Phật và Địa Tạng Bồ Tát. Xong rồi, tất cả đại chúng trong pháp hội đều lại chiêm lễ, chắp tay mà lui ra” (+)

Bạn khen trà thơm quá! Tôi không nghĩ vậy đâu. Hương thơm từ hoa trời rải trong kinh đó! Bạn đang mở tới kinh Vô Lượng Thọ phải không? Chúng ta đã từng xúc động vô cùng khi Thầy giảng tới đoạn Tỳ-kheo Pháp Tạng, tiền thân Phật A Di Đà, quỳ trước Đức Thế Tôn xin Từ Phụ chứng minh bốn mươi tám đại nguyện. Lời phát nguyện thứ bốn mươi tám vừa dứt thì đại địa rung chuyển, hoa trời rải xuống như mưa vì Chư Thiên biết rằng với tâm từ bi rộng lớn như vậy, Ngài Pháp Tạng đã vun trồng vô lượng công hạnh của bậc Bồ Tát. Ngài sẽ thành Phật, độ vô lượng chúng sanh. Quả đúng như thế, trang kinh A Di Đà đang mở rộng trước chúng ta:

“Hựu Xá Lợi Phất, Bỉ Phật quốc độ, thường tác thiên nhạc, huỳnh kim vi địa, trú dạ lục thời, vũ thiên mạn-đà-la hoa, kỳ độ chúng sanh, thường dĩ thanh đáng, các dĩ y kích, thạnh chúng diệu hoa cúng dường tha phương thập vạn ức Phật …” (=)

Đó, thế giới của Phật A Di Đà, sáu thời đều có hoa mạn-đà-la rơi xuống như mưa, chúng sanh ở đó thường lấy giỏ, hứng hoa thơm, cúng dường tha phương thập vạn ức chư Phật…

Nói đến hoa trời, làm sao có thể không nói đến Phẩm Đại Như trong kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật vì mở đầu phẩm này đã là khung cảnh rực rỡ, ngát thơm:

“Lúc bấy giờ, Chư Thiên cõi dục cõi sắc đem hương bột chiên-đàn cõi trời và những hoa sen xanh đỏ hồng trắng rải xuống như mưa cúng dường Đức Phật, rồi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ dưới chân Phật mà thưa rằng: Bạch Đức Thế Tôn, vô thượng Bồ Đề của Chư Phật thật là rất sâu, khó thấy, khó hiểu, chẳng thể suy ngẫm mà biết được; chỉ có bậc trí mới biết được, ngoài ra thế gian chẳng thể tin. Tại sao vậy?” (#)

Sau khi Đức Phật chỉ bày cặn kẽ câu hỏi đầy trí tuệ này và Ngài Tu Bồ Đề trình Đức Thế Tôn về pháp Vô Ngại Tướng thì cõi Đại Thiên thế giới chấn động vì pháp mầu quá vi diệu; và Chư Thiên lại tỏ bày lòng hoan hỷ vô biên qua mưa hoa và hương bột chiên-đàn rải trên kim thân Đức Phật và ngài Tu Bồ Đề.

Nhưng có lẽ hoa trời nhiệm mầu nhất là ở pháp hội Liên Hoa, trong núi Kỳ-Đà-Quật, thành Vương Xá. Pháp hội có mặt hầu hết các vị Đại A La Hán, các vị Đại Bồ Tát, các vị Thiên Tử, Đại Tự Tại Thiên Tử, các hàng Thiên Vương, A Tu La Vương, khắp hàng Chúng, Trời, Rồng ..vân vân … nghìn muôn ức đều về câu hội.

“Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn vì hàng tứ chúng vây quanh cúng dàng cung kính, ngợi khen tôn trọng, vì các vị Bồ Tát mà nói kinh Đại Thừa tên là Vô Lượng Nghĩa Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm.

Nói kinh này xong,Đức Phật ngồi xếp bằng, nhập vào chánh định Vô Lượng Nghĩa Xứ. Thân và tâm của Phật đều không lay động.

Khi đó, trời mưa hoa Mạn-đà-la, hoa Ma-ha-mạn-đà-la, hoa Mạn-thù-sa, hoa Ma-ha-mạn-thù-sa, rải trên Đức Phật cùng hàng đại chúng; khắp cõi trời, sáu điệu vang động” (0)

Bạn ơi, bạn có tưởng tượng được khung cảnh cực kỳ hoành tráng này không? Thế giới nào có thể đẹp đẽ hơn, trang nghiêm hơn, rực rỡ hơn, mầu nhiệm hơn, khi nơi đó, Đức Phật sẽ tuyên một pháp lớn, vi diệu nhất, một pháp gom trọn những pháp-phương-tiện mà Đức Phật từng truyền dạy trước đây. Đó là câu:

“Mọi chúng sanh đều có Phật tánh như nhau. Ta là Phật đã thành. Các con là Phật sẽ thành”.

Tôi biết vì sao mở tới trang mưa hoa bát ngát này bạn lại tư lự, buồn rầu. Tôi cũng đang nghĩ như bạn vậy. Nếu chúng sanh biết Tín, Nguyện, Phụng, Hành được cốt tủy lời Phật dạy trong pháp hội này thì thế giới nào, thời gian nào chúng ta ngẩng mặt nhìn trời mà chẳng thấy mãn-thiên-hoa-vũ (rợp trời mưa hoa); Tâm Phật tạo cảnh Phật thì làm sao mãn-thiên-phi-tiễn (đầy trời phi tiêu) có thể len vào được.

Có vị nào gặp nhà báo, thử nhắc khẽ về những thế giới mãn-thiên-hoa-vũ, may ra ông nhà báo đỡ buồn giữa thế giới mãn-thiên-phi-tiễn này.

Diệu Trân
Như-Thị-Am,

------------------------

(*) Kinh Đại Bảo Tích, phẩm pháp-hội Hằng Hà Thượng Ưu Bà Di – Thích Trí Tịnh dịch.

(+) Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện – Thích Trí Tịnh dịch.

(=) Kinh A Di Đà.

(#)Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật, phẩm Đại Như – Thích Trí Tịnh dịch.

(0)Kinh Pháp Hoa, phẩm Tựa – Thích Trí Tịnh dịch.

Ước mong sao các nhóm thực hiện Đại Tạng Kinh Việt Nam sẽ kết hợp lại với nhau để cùng chung tài, chung sức thực hiện một Đại Tạng Kinh bằng tiếng Việt thuần túy có tầm cỡ quốc gia và quốc tế cho những thế hệ mai sau. Có thể nói Đại Tạng Kinh Việt Nam là một “Giấc Mộng Lớn” cho ước mơ thành hiện thực.
Thỏ thẻ rừng Mai chim cúng trái,
Lửng lơ khe Yến cá nghe kinh.
Chu Mạnh Trinh là khách hành hương tới Hương Sơn để hưởng thú “bầu Trời, cảnh Bụt”; nhưng thật ra là đang viếng cảnh biển xanh biến thành nương dâu đang hiện tướng trong tâm thức của chính mình. Chim ríu rít cúng dường hoa trái. Cá lặng lờ ngừng vẫy nghe kinh là khi Tâm Kinh biến thành Chân Kinh.
Nguyễn Du cũng đã qua bao nhiêu trải nghiệm thăng trầm của thế sự, nhưng mãi tới khi về lại với chính mình mới tìm được Chân Kinh:
Ngã độc Kim Cang thiên biến linh...
Kim Cang vô tự thị Chân Kinh.
(Nghìn lần ta đọc Kim Cang...
Kim Cang thật nghĩa là trang không lời.)
Kinh có Khế kinh, Tâm kinh và Chân kinh.
Khế kinh là những tạng kinh đã thành quy ước chung của kho tàng kinh điển nhà Phật.
Tâm kinh là những phẩm kinh trở thành trái tim, xương sống của giáo lý nhà Phật như Bát Nhã Tâm Kinh. Hoặc như kinh A Di Đà, Vô Lượng Thọ là tâm kinh của Tịnh Độ Tông; Đại Nhật là tâm kinh của Mật Tông...
Chân kinh là khi kinh không còn ở dạng hình thức ngôn từ, chữ nghĩa nào nữa. Kinh như chiếc bè đưa người qua sông. Tới bến thì bỏ bè; sống đạo thì không còn kinh. Kinh là phương tiện để đánh thức và nhắc nhở như tiếng chuông, tiếng tán. Thuộc kinh để tu hành mong đạt tới chỗ quên kinh khi kinh không còn là ý, là lời mà kinh đã tan loãng và hòa quyện thành máu thịt.
Tuy nhiên, thực tế đã chỉ rõ rằng, nếu không phải là thần đồng Bồ tát hóa thân thì căn bản trước nhất là phải qua ngõ Khế Kinh trước đã. Nghĩa là phải tiếp cận để hiểu và tu học “kinh thường” như một cửa ngõ khai tâm, luyện trí. Về sau, tùy theo bề dày của công phu tu tập mà tiến tới tầm cao của Tâm kinh và Chân kinh.
Nhớ ngày Mồng Một Tết, tôi không đọc kinh mà suy nghĩ vẩn vơ về kinh. Một ý nghĩ chưa thành cho tới bây giờ.
Sống ở phương xa, ngày đầu Xuân, pha chén trà cúng Phật và Ông Bà, tôi không cúi đầu – đê đầu tư cố hương – như Lý Bạch ngày xưa mà ngẫng mặt nhìn bàn thờ phơ phất khói nhang; nhớ quá quê nhà đang ngon giấc nửa đêm bên kia.
Để tự mình chúc phúc đầu năm, tôi mở cuốn Nghi Thức Tụng Niệm ra đọc phẩm Cầu An. Chút tỉnh giác mượt mà sớm mai đi đâu mất khi tôi đối diện với kinh. Những câu kinh Hán Việt làm đầu óc tôi mệt mề và trở nên lười biếng. Tuy không xa lạ với chữ Hán, nhưng cảm xúc nhớ quê hương làm tôi thèm nghe giọng nói chân quê của Mẹ. Tiếng Mẹ đối với đàn con tha hương cũng là “Chân kinh” vượt ra ngoài phạm trù của ngôn ngữ quy ước.
Thuở ấy, tôi được bà con khen vì còn nhỏ mà đã đọc thuộc lòng mấy bài kinh “Nam mô, ma ha, tô rô...” khó nhớ, khó hiểu. Miệng tôi đọc theo bác chủ lễ và toàn ban tụng niệm trơn tru như hát đồng ca một bài hát tiếng Quan Thoại, nhưng trí óc thì lại mù mịt về ý nghĩa. So với bầy cá ở khe Yến nghe kinh của Chu Mạnh Trinh – trăm năm trước – thì chúng tôi – trăm năm sau – cũng chả hơn gì mấy. Rồi năm mươi năm sau, tới thế hệ con cháu chúng tôi, bầy cá nghe kinh cũng cứ vẫn còn “lửng lơ” như thế. Các bài kinh tụng đọc phổ thông trong sinh hoạt chùa viện của Phật giáo Việt Nam trong cũng như ngoài nước càng ngày càng trở nên khó hiểu đối với thế hệ trẻ vì ngôn từ Hán Việt của kinh văn đọc tụng còn quá nặng nề và thiếu thống nhất.
Về mặt tích cực, tuy công trình dịch thuật chưa hoàn mãn, nhưng thế hệ đàn em phải ghi nhận để trân trọng tán dương công đức của thế hệ đàn anh. Đó là một công trình tổng hợp của chư tôn thiền đức, quý thiện tri thức, cư sĩ Phật tử, học giả thân hữu và đại chúng Phật tử đã hiến dâng nhiều tâm sức vào nỗ lực phiên dịch kinh tạng từ chữ Phạn, chữ Hán sang ngôn ngữ thuần Việt.
Nói đến Đại Tạng Kinh Phật giáo là nói đến một cánh rừng Thiền của chữ nghĩa.
Chỉ mới nói đến mục lục chi tiết để liệt kê tên từng tạng và phẩm kinh không thôi thì tác phẩm dịch thuật công phu Phật Giáo Đại Tạng Kinh - Tường Tế Mục Lục của thầy Thích Chánh Lạc cũng đã dày ngót 900 trang. (Phú Lâu Na xuất bản năm 2002). Theo các bản dịch tiếng Anh, nếu phỏng tính trung bình mỗi trang có khoảng 500 chữ – kiểu chữ Times New Roman và cỡ chữ 12 – thì Đại Tạng Kinh Pali có khoảng 30.000 trang và Đại Tạng Kinh Trung Hoa có khoảng 80.000 trang (một số lượng bằng 40 lần Kinh Thánh của đạo Thiên Chúa; nếu dựa vào tiêu chuẩn New King James Version). Phật giáo Trung Hoa với trên 2.000 công trình trước tác kinh luận đã nâng số lượng kinh điển Phật giáo lên 3, 4 lần kể từ khi Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang Trung Hoa. Con số nầy nói lên một thực tế rằng, nỗ lực cá nhân không kham nổi mà phải cần tới cả một tập thể hành giả, trí giả, dịch giả chuyên biệt mới làm nổi công việc dịch thuật và hiệu đính kinh tạng nhà Phật.
Đạo Phật truyền thừa vào Việt Nam đã hai nghìn năm qua. Phật giáo Việt Nam không thiếu nhân tài và các bậc danh tăng tôn túc đã dày công dịch thuật Tam Tạng kinh điển. Nhưng những cuộc xâm lăng liên tục, truyền đời tàn bạo và âm mưu đồng hóa của Trung Hoa đã càn quét và vùi dập mọi nỗ lực hoàn thiện một hệ thống chữ viết Quốc âm như chữ Nôm. Nghiêm trọng nhất là Bắc thuộc lần thứ Năm (1407-1427) với cuộc xâm lăng của quân Minh, gây binh kết oán suốt 20 năm, mà Nguyễn Trãi đã tuyên cáo: “Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây họa; bọn gian tà còn bán nước cầu vinh...” Trong cuộc xâm lăng nầy, quân Minh đã vơ vét mọi kinh sách, tác phẩm dịch thuật và những công trình trước tác của Phật giáo Việt Nam để chở về Trung Quốc. Việt Nam tuy có sức sống độc lập cộng với tinh thần chống ngoại xâm kiên trì, dũng mãnh nên còn giữ được vốn văn hóa và tiếng nói dân tộc; nhưng vẫn không tránh khỏi thương tích đầy mình. Nền móng chữ Nôm lung lay và lụi tàn. Hệ thống chữ viết dựa theo mẫu tự La Tinh xuất hiện muộn màng do nhu cầu của các nhà truyền đạo phương Tây chứ không phải xuất phát từ tri thức và máu thịt của dân tộc như hệ thống chữ Hán, chữ Nhật, chữ Đại Hàn. “Bóng đè” của chữ Hán Việt vẫn ngự trị nặng nề trên hầu hết những lĩnh vực tư tưởng, giáo dục và xã hội Việt Nam. Kinh điển chữ Hán trở thành phương tiện chiếm lĩnh trong sinh hoạt đạo Phật. Hệ lụy của Hán Tạng sâu đậm tới nỗi khuynh hướng sính chữ Hán, đọc tụng kinh chữ Hán, viết sớ điệp bằng chữ Hán, xem chữ Hán như một “linh tự” trong chùa chiền vẫn còn thâm căn cố đế tới ngày nay. Nhiều nỗ lực dịch thuật, Việt hóa nghi thức, thực hành tụng đọc kinh kệ bằng tiếng Việt, chữ Việt gặp nhiều trở ngại. Nguyên nhân chính của sự trở ngại nầy là vì giới Phật tử xuất gia cũng như tại gia vẫn còn mang mặc cảm chữ nghĩa “thông Nho, thạo Hán” đầy kiến chấp không còn thích hợp vào sinh hoạt tu hành ngày nay. Thế nhưng về mặt tâm lý, vô hình chung, hiện trạng “nói chữ” nầy lại có vẻ như giúp nâng tầm “thức giả” của người tụng kinh niệm chú chữ Hán trước mắt đại chúng bình dân.
Đại Tạng Kinh Việt Nam
Sự nghiệt ngã của hoàn cảnh lịch sử đã khiến Việt Nam thành một nước “ăn sau, chạy dọi” trong công trình phiên dịch một Đại Tạng Kinh Việt Nam.
Chữ viết và ngôn ngữ tuy cũng chỉ là phương tiện văn hóa, nhưng đấy cũng chính là niềm tự hào dân tộc mà nước Việt Nam đã bị Trung Quốc giày xéo, vùi dập, phá tan, lấy đi, tráo lại qua những thời kỳ Bắc thuộc kéo dài cả ngàn năm. Việt Nam, tránh được mối nhục đồng hóa, mối họa mất nước nhưng phải trả giá là sự lụi tàn của của chữ Nôm hay một hệ thống chữ viết thuần túy Quốc Âm tương tự. Và riêng Phật giáo Việt Nam bị “bóng đè” của kinh tạng chữ Hán nặng nề đến nỗi đã hơn hai nghìn năm qua mà vẫn chưa có được một Tạng Kinh Việt Nam thuần Việt.
Một vấn đề thuộc phạm trù văn hóa Phật giáo được đặt ra là một bản dịch hoàn chỉnh cho Đại Tạng Kinh Việt Nam sẽ dựa trên căn bản Đại Tạng Kinh nào.
Các Đại Tạng Kinh hoàn thiện nhất của Phật giáo hiện nay được bảo lưu theo các hình thức ngôn ngữ:
Tiếng Phạn (Samskrta) là một cổ ngữ của Ấn Độ. Riêng trong ngôn ngữ truyền thống của đạo Phật, hình thức văn tự thường có hai hình thái:
Phật giáo Nguyên thủy dùng kinh tạng Pali (còn được hiểu như là Nam Phạn). Điển hình ở các nước Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt.
Phật giáo Phát triển, còn gọi là Đại Thừa hay Bắc truyền dùng kinh tạng Sanskrit (còn được hiểu như là Bắc Phạn).
Bên cạnh đó, Hán tạng và Tây Tạng tạng lại được nhánh Phật giáo Đại Thừa, Bắc truyền có khuynh hướng chọn làm chuẩn mực. Điển hình là ở các nước Trung Hoa, Tây Tạng, Việt Nam, Nhật Bản, Đại Hàn.
Tuy nhiên, với tinh thần “tùy duyên bất biến” của tinh hoa truyền thừa giáo lý nhà Phật, hầu như các Đại Tạng Kinh đều không khác nhau về triết lý và tín lý cơ bản của nhà Phật. Có rất nhiều điểm tương đồng và nhiều thuật ngữ có thể hoán chuyển cho nhau giữa Pali và Sanskrit. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu Tam Tạng kinh điển nhà Phật theo khuynh hướng bảo thủ thường chọn Pali tạng làm chuẩn mực phiên dịch và so sánh.
Với Phật giáo Việt Nam ngày nay, một Đại Tạng Kinh Việt Nam là niềm mong mõi chung. Nhiều công trình dịch thuật và hiệu đính đã và đang tiến hành đồng thời với sự tinh lọc và bổ sung cho nhau. Các công trình dịch thuật và hoàn thiện một Đại Tạng Kinh bằng tiếng Việt thuần túy đã khởi động và tiến hành từ mấy chục năm qua bằng nhiều phương tiện và quy mô khác nhau.
Trong nước, đầu năm 1990 (Canh Ngọ), Hội đồng Phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam được thành lập. Đây là sự phối hợp trên một quy mô lớn với sự tham gia của quý tu sĩ, cư sĩ và trí thức có năng lực đáng tin cậy trong lĩnh vực ngôn ngữ, Phật học. Chỉ trong vòng 1 năm, cuối năm 1991, hai bộ kinh đầu tiên - Trường A-Hàm dày 1200 trang, Trường Bộ Kinh dày 1360 trang - được phiên dịch, hiệu đính và công bố. Qua năm 1992, hai bộ Kinh Trung A Hàm (3 tập) và Trung bộ kinh (3 tập) lần lượt được ấn hành để đặt nền móng cơ bản cho công tác hình thành Đại Tạng Kinh Việt Nam. Và những năm tiếp theo, những bộ kinh phiên dịch lần lượt được ấn hành và công bố. Trong vòng 20 năm qua, một “tập đại thành” chung quyết tương đối hoàn chỉnh của Đại Tạng Việt Nam vẫn đang trên đà hoàn thiện.
Ngoài nước, năm 2004, kẻ viết bài nầy được mời vào Hội đồng phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam từ Hán tạng. Đây là một dự án sử dụng phần mềm của những chương trình chuyên dịch tinh tế và hiện đại của vi tính vào công trình phiên dịch. Tất cả 2372 bộ Kinh trong Hán Tạng được phiên âm và lược dịch bằng máy vi tính trong vòng 28 giờ. Các bộkinh ngắn chỉ cần dưới 10 giây đồng hồ. Các bộ kinh lớn như Hoa Nghiêm (80 quyển) dịch trong 11 phút, bộ Đại Trí Độ Luận 17 phút, và bộ Đại Bát Nhã (600 quyển) 50 phút.
Năm 2006, các Tăng Ni Việt Nam du học ở Sri Lanka cũng xây dựng một dự án thực hiện Đại Tạng Kinh Song Ngữ (Pali - Việt Nam) tổng cộng 58 tập. Đây cũng là một công trình lâu dài vì Đại Tạng Kinh Pali-Tích Lan hay Pali-Thái Lan cũng phải mất thời gian phiên dịch trung bình là 30 năm.
Dịch thuật khác với sáng tác vì công việc chuyển ngữ đòi hỏi phải có trình độ ngoại ngữ vững vàng, kiến thức chuyên khoa phong phú và sự am hiểu văn hóa và ngữ cảnh của cả hai ngôn ngữ dịch và được dịch.
Từ trong khái niệm sâu xa nhất của ngôn từ Hán Việt, kinh Phật được xem như là Thơ (Thi = Ngôn + Tự). Ngôn ngữ thơ là sự cô đọng tinh túy của ý và lời. Như một bài thơ ngắn nhất trong những bài thơ là bài tứ tuyệt Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế đời Đường. Nó đã trở thành tuyệt phẩm lưu danh thiên cổ. Bài Bát Nhã Tâm Kinh của Huyền Trang là bài kinh ngắn nhất trong những bài kinh của Phật giáo. Từ 600 cuốn của bộ Đại Bát Nhã, Huyền Trang đã rút lại chỉ còn 260 chữ. Nhưng Bát Nhã Tâm Kinh đã trở thành trái tim tuệ giác của đạo Phật. Thế giới Phật giáo xưa nay chưa có bài kinh nào ngắn mà hơn được về triết lý uyên áo, ngôn từ thâm diệu và âm hưởng trác tuyệt bằng bài kinh này. Phần Việt dịch cho kinh Bát Nhã đến nay đã có trên 15 bản dịch của các bậc danh Tăng và học giả trong cũng như ngoài nước, nhưng chưa có bản dịch nào được xem là đạt chuẩn mực về sự chuyển ngữ. Cái gút thắt nổi cộm chung của các công trình dịch Bát Nhã Tâm Kinh chưa đạt vẫn là khái niệm về từ ngữ thiếu đồng bộ và tương ứng giữa Hán Việt và Thuần Việt. Ví dụ trong muôn một là từ Hán Việt có 4 chữ khác nghĩa tách bạch, rạch ròi như: “không”, “vô”, “bất”, “phi” thì tiếng Thuần Việt chỉ có một chữ “không…” tương ứng. Khi chuyển ngữ, người dịch khó tránh khỏi giới hạn liễu nghĩa của từ ngữ. Trong lúc đó thì “Không” là một khái niệm cốt tủy của Bát Nhã Tâm Kinh, nên biết bao dịch giả tài hoa và có thẩm quyển về mặt tư tưởng và chữ nghĩa nhà Phật như quý thầy Thích Minh Châu, Thích Thiện Hoa, Thích Thanh Từ, Thích Nhất Hạnh… cũng chưa vượt trội ra ngoài giới hạn của ngôn ngữ!
Bởi vậy, trong lĩnh vực nhân văn mà đặc biệt là ngôn từ, ngữ văn thì máy móc chỉ là phương tiện phụ trợ chứ không thể thay thế hẳn được con người. Khi cái máy vi tính làm công việc chuyển ngữ trong vòng 28 tiếng đồng hồ thì phải cần tới một đội ngũ của hàng trăm đầu óc chuyên môn, tinh lọc và hiệu đính trong một thời gian không thể dưới vài ba mươi năm. Đã hơn 10 năm qua và liên tục tới hiện tại, có từ 50 đến 100 tăng ni, học giả... đông nhất là ở chùa Châu Lâm và trung tâm Liễu Quán Huế đang tập trung vào công tác hiệu đính và hoàn thiện Đại Tạng Kinh Việt Nam sau khi Đại Tạng Kinh Hán Việt được dịch sang Thuần Việt bằng chương trình chuyển ngữ vi tính..
Ước mong sao các nhóm thực hiện Đại Tạng Kinh Việt Nam sẽ kết hợp lại với nhau để cùng chung tài, chung sức thực hiện một Đại Tạng Kinh bằng tiếng Việt thuần túy có tầm cỡ quốc gia và quốc tế cho những thế hệ mai sau. Có thể nói Đại Tạng Kinh Việt Nam là một “Giấc Mộng Lớn” cho ước mơ thành hiện thực.
Thiền Môn Nhật Tụng
Trong khi các bậc tôn đức đang lo chuyện “trời biển” về việc hoàn thiện một Đại Tạng Kinh Việt Nam thì những bài kinh văn đang được dùng để đọc tụng hàng ngày trong các chùa viện Phật giáo Việt Nam – trong cũng như ngoài nước – đang trải qua một thời kỳ tù đọng “xưa bày, nay làm”. Đó là nghi thức tụng niệm phổ thông đang lâm vào cảnh chìm nổi của ngôn từ, lễ nhạc, nghi thức, pháp cụ và pháp khí… khiến phương tiện hành lễ thành ra bất nhất. Thậm chí, có nơi “tùy nghi phương tiện” theo nhu cầu và cảm hứng riêng. Cụ thể nhất là những câu kinh phiên âm Hán Việt đã trở nên “tối hù” vì đại chúng và nhất là tuổi trẻ phải đọc tụng hay nghe xướng âm mà không hiểu nghĩa.
Như phần dẫn nhập ở trên đã trình bày, kẻ viết những dòng nầy cũng như các bạn đạo cùng thế hệ hay cao niên hơn, đã trải qua gần hết đời mình làm “cá nghe kinh” với những nghi thức tụng niệm “Hán-Nôm bất nhất” như thế. Sự nhập nhằng giữa các bài kinh Hán Việt và Thuần Việt trong quá nhiều cuốn Nghi Thức Tụng Niệm được giới cầu phước cầu tài cúng dường, thu băng, in ra và phát hành miễn phí ở các chùa như bươm bướm. Tất cả đều thiếu sự chỉ đạo của Hội đồng Chứng minh từ phía các bậc tôn túc nên càng làm cho quần chúng Phật tử bị lạc vào những mớ kinh văn hỗn độn.
Trực tiếp hơn là trong các khóa lễ, các vị chủ lễ xướng tụng “câu Hán hoán câu Việt” theo cảm tính chọn lựa cá nhân đã dần dần biến Nghi Thức Tụng Niệm hành lễ hàng ngày của đạo Phật khi tỏ khi mờ, mỗi nơi một khác. Những bài kinh đáng lẽ mang một ý nghĩa trong sáng, cao sâu hóa ra trở thành khúc mắc và bí hiểm gần với hình thức bùa chú, ấn quyết hơn là “nguyện giải Như Lai chơn thiệt nghĩa”.
Từ bản chất và tác dụng, kinh không phải là để phụng thờ hay đọc tụng ngân nga nhằm thỏa mãn cảm xúc cầu khấn kiểu “thầy cúng qua đường” dùng lối đọc tụng kinh chú để bắt ma, trừ tà, ếm quỷ. Kinh là một phương tiện thiện xảo để chuyển hóa tâm linh. Muốn được vậy, ý kinh phải rõ ràng, lời kinh phải trong sáng mà hình thái lý tưởng nhất là bằng chính ngôn ngữ ruột (mẹ đẻ) của người đọc tụng.
Đối với hàng Phật tử sơ cơ, nhất là đối với thế hệ tuổi trẻ hướng Phật, sự thống nhất về một nghi thức “Thiền Môn Nhật Tụng” thuần tiếng Việt đầy đủ tính trong sáng, dễ hiểu, đại chúng đang trở thành một nhu cầu cấp thiết trong sinh hoạt tu học của Phật giáo Việt Nam. Có thể nói một cách đầy biểu cảm theo chữ nghĩa của Tản Đà rằng, đó là một “Giấc Mộng Con” của người Phật tử hiện nay. Phương tiện dồi dào và tiềm năng phong phú của Phật giáo Việt Nam hiện nay có thừa công lực để biến giấc mộng con đó thành hiện thực. Hy vọng rằng, đây sẽ là khởi điểm cho bất cứ một ý hướng chấn hưng – hiện đại hóa, cải cách, ứng dụng… – Phật giáo nào trong một hoàn cảnh rất “nhạy cảm” toàn cầu hiện nay.
Khi hỏi về nguyên nhân nào đã đưa tới sự kết hợp hài hòa giữa Thần Đạo và Phật Giáo để tạo ra tính dân tộc đầy bản lĩnh của người Nhật đã được thể hiện qua dòng lịch sử đầy tai trời ách nước của xứ nầy làm cho thế giới khâm phục, thầy Seigen Yamaoka, sư trưởng chứng minh của Hiệp Hội Phật Giáo Châu Mỹ (Buddhist Churches of America) ở San Francisco trả lời: “Nhật Bản đoàn kết trước khi hành động nên thường đúng lúc. Nơi khác hành động trước khi đoàn kết nên thường muộn màng.”
Nhân gian ai lại chẳng thích đúng lúc; chẳng có ai thích muộn màng. Câu nói giản đơn mà dư âm thâm sâu như một công án, thật đáng cho người Phật tử Việt Nam hôm nay và mai sau chấp tay suy gẫm.
Sacramento, 2011
Trần Kiêm Đoàn


Nhân ngày Khánh Thành tượng đài Quán Thế Âm Bồ Tát, tại bãi biển làng An bằng, Xã Vinh An,Huyện Phú Vang, Tỉnh Thừa Thiên- Huế Việt Nam vào những ngày 15, 16 năm Tân Mão ( 2001)đã có một phật tử ghi Cảm niệm sau đây:
An Bằng Vang Vọng Hải Triều Âm
Muôn Chim CaLăng Hót Báo Tin Mừng
Khách Trần Dâng Lễ Từ Bi Nguyện
Biển Khơi Cá Lội Lắng Nghe Kinh
The Buddha as a child, taking a bath. Gandhara, 2nd century CE.jpg
Copyright © NhocLak.Com .