Phật pháp luôn mang lại cho chúng ta những bông hoa “đức hạnh “để đón chào một cội nguồn tâm linh siêu thoát và mùa xuân bất diệt.
“Đức hạnh” hai tiếng nghe sao mà ngọt ngào, êm dịu thế! Có được đức hạnh không phải là chuyện dễ, bởi vì con người ai cũng có Phật tánh nhưng nó luôn bị kìềm chế bởi tham sân si. Con người là sự hợp thành của các duyên, nhưng nó vẫn hàm tàng một thế giới tâm linh huyền bí với nhiều tiềm năng phi thường, và có hai năng lực trái ngược nhau: Một cái hướng về cao thượng trong sạch đặc tính của Thánh nhân, và một hướng về những điều tội lỗi dơ bẩn của phàm phu thấp kém. Như trong Kinh đức Phật dạy:
“Chính ta làm trong sạch,
Chính ta làm nhiễm ô”.
Hai tiềm lực này luôn luôn nằm trong ta nhiều hay ít, mạnh hay yếu tùy trường hợp. Người biết vun bồi đức hạnh là một phước lành cho nhân loại, kẻ bị tật xấu chi phối là một đại họa. Phật pháp là tinh hoa đem lại cho những ai muốn vượt lên trên số đông giữa quần chúng, phục vụ nhân loại không những bằng cách sống cao thượng và gương mẫu mà còn ban bố những lời dạy hữu ích. Những ai muốn tận dụng cơ hội quý báu được sanh làm người đều hết sức gia công gột rửa những tật xấu và phát triển những đức hạnh đang còn tiềm ẩn và ngủ ngầm trong tâm thức họ. Con người chúng ta dù trai hay gái, sang hay hèn đều có thể cố gắng và nhẫn nại trau dồi đức hạnh quý báu của mình; vì đó không phải là một di sản do cha ông để lại.
Chỉ có đức hạnh mới xóa bỏ lòng sân hận; đó là một thái độ nhẹ nhàng êm dịu cảm thông, bao dung, độ lượng, nhân từ… Nếu thực hành đức hạnh thì con người sẽ trở nên cao thượng tuyệt nhân như những vần thơ dưới đây:
“Với gấm vóc, hương trầm bảo vật,
Cùng trăng thu vằng vặc ánh vàng,
Nhẹ nhàng gió mát đêm trường,
Cũng không xoa dịu nỗi lòng thâm sâu.
Chỉ đức hạnh trong ngần cao quý,
Mới vững bền tiết chế lòng người”.
Chỉ có lòng từ bi mới tiêu trừ được hung ác và tàn tạo của con người. Phương thuốc mầu nhiệm và công hiệu nhất để chữa trị các bệnh ganh tị đó là hỷ xả.
“Chỉ có đức hạnh khôn cùng,
Gột tan ác ý, rửa dần mê tâm”.
Nhờ đức hạnh mà con người mới trở nên hoàn thiện, thay cũ đổi mới, lấy thiện trừ ác. Nếu mỗi người cố công thực hành đức hạnh, thì quả địa cầu này trở thành Tịnh độ, và tất cả chúng sanh đều được an vui và hòa hợp trong tình người, tình dân tộc, quê hương đất nước.
Bến đức độ rộng lớn bao la vì Từ Bi, Hỷ Xả không bờ bến, không ranh giới và cũng không hạn định. Tứ vô lượng tâm này rất bình đẳng, nó bao trùm tất cả chúng sanh không từ bỏ một sinh linh nhỏ bé nào.
Từ, Bi, Hỷ và Xả rất là vô lượng, vô biên. Chúng ta là người con Phật thì phải tinh tấn trau dồi đức hạnh ấy để tạo cho mình một cuộc sống an lạc và dẫn dắt tha nhân để cùng nhau đi trên lộ trình giải thoát đó. Đúng như những vần thơ dưới đây, nó bộc bạch rất chân chất và thắm tình đạo vị giữa kiếp nhân sinh của phàm phu và thế giới tâm linh mầu nhiệm của bậc Thánh.
“Đời đạo hạnh tinh hoa giới đức,
Không điểm tô trang sức chi hơn,
Mà luôn sáng tỏ vô ngần,
Chỉ nơi đức hạnh rõ ràng hào quang,
Nào vua chúa ngọc vàng lóng lánh,
Nhường mờ lu bên ánh rạng này”.
Vẫn một áng mây
Muôn vạn lần ta đã đến đây
Quanh năm suốt tháng
cõi nhân gian này
Không có có không chỉ một ngày
Có không không có chỉ một giây
Tiếng cười mới vui
Rồi tiếng khóc
Trên tầng không vẫn một áng mây
Mừng mừng tủi tủi ta gặp nhau
Tủi tủi mừng mừng ta xa nhau
Ngày tháng trôi mau
Nào ai biết?
Bãi biển nay thành nương dâu
Ai có hay?
Trên tầng không vẫn một áng mây
Sinh ly tử biệt
Trò nhân thế
Sang giàu nghèo khó
Chuyện thế nhân
Cửa vui luôn mở rộng đêm ngày
Trên tầng không vẫn một áng mây
Pháp Nhật
Ông chủ Facebook “hành bồ-tát hạnh”
Tỷ phú trẻ nhất nước Mỹ, Mark Zuckerberg, cam kết tham gia và hiến phần lớn tài sản của mình cho sự nghiệp từ thiện. Chàng trai chủ nhân của mạng xã hội Facebook 26 tuổi này đã làm cả thế giới chú ý tới không chỉ vì trí tuệ và tài năng trẻ phục vụ số đông của anh, mà anh còn là hiện tượng của sự dấn thân vào những công việc khó làm –hiến tài sản làm từ thiện– ở độ tuổi và sự nghiệp đang phất. Phật giáo xem sự dấn thân như thế là bồ-tát hạnh, là công hạnh vì lý tưởng lợi tha của người Phật tử Đại thừa. Nhìn một Phật giáo phi hình thức, người Phật tử có thể thấy được vai trò đích thực của tư tưởng Phật giáo không nằm ở tôn giáo, mà nằm ở hành động. Tôi xin thông qua nhân vật Zuckerberg để làm sáng tỏ tư tưởng này của Phật giáo.
Việc xem tỷ phú Zuckerberg “phát bồ-đề tâm, hành bồ-tát hạnh” nghe ra có vẻ khó chấp nhận đối với người Phật tử, bởi những khái niệm này vừa là thuật ngữ vừa là lý tưởng của Phật giáo Đại thừa lại được gán cho một chàng trai người Mỹ gốc Do Thái. Nhưng kỳ thật, ‘bồ-đề tâm’ cũng như ‘bồ-tát hạnh’ không mang một ý nghĩa tín ngưỡng tôn giáo gì cả. Nó biểu đạt một lối sống của người đi tìm kiếm hạnh phúc thông qua sự nghiệp tạo dựng hạnh phúc cho người khác.
Bồ-đề tâm phát xuất từ chữ ‘bodhicitta’, là một thuật ngữ của Phật giáo Đại thừa. ‘Bồ-đề’ là phiên âm của chữ ‘bodhi’ (tiếng Pali/Sanskrit), nghĩa là ‘giác’, ‘giác ngộ’, ‘tuệ giác’, tức là hiểu biết các pháp một cách rốt ráo, không có chấp thủ. Bodhi là quả vị giác ngộ tối thượng mà đức Phật đã chứng đắc dưới gốc cây Assattha mà sau đó cây này được gọi là cây Bodhi (Bồ-đề). Bồ-đề tâm (bodhicitta) do đó có thể được hiểu là tâm giác ngộ. Đối với chư Phật, nó là thực tại; còn đối với chúng sanh, nó cần phải được phát huy, cho nên được gọi là ‘phát tâm bồ-đề’. Người phát tâm bồ-đề cần hiểu rõ rằng bồ-đề sẵn có trong mỗi chúng sanh và sẽ hiện rõ khi màn vô minh được vén lên. Điều này muốn nói đến tánh giác trong mỗi chúng sanh. Trong văn học Phật giáo Nguyên thủy (Pali), từ tương đương của bồ-đề tâm có lẽ là ‘pabhassara citta’, nghĩa là ‘tâm sáng chói’. Kinh Tăng Chi chép: “Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói, nhưng bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào” (A.i, 9). Như vậy, phát tâm bồ-đề có thể được hiểu là hướng tâm đến sự thanh tịnh sáng chói vốn có (của tâm), và cũng tức là hướng tâm đến sự giác ngộ bồ-đề (bodhi).
Với ý nghĩa Bồ-đề như vậy thì tỷ phú Zuckerberg phát bồ-đề tâm như thế nào? Trước hết chúng ta cần xác định rằng Phật giáo chỉ quan tâm đến con người và tâm người, mà không có một sự phân biệt nào liên quan đến giai cấp, sắc tộc, tôn giáo, v.v. Và hành động hay nghiệp (karma) được xem là chủ trương của Phật giáo với mục đích là làm thanh tịnh ba nghiệp thân, khẩu, ý (việc làm, lời nói, ý nghĩ). Đây là con đường đưa đến sự đoạn tận tham, sân, si, thành tựu quả vị bồ-đề. Nói cách khác, quả vị bồ-đề có thể chứng đắc nếu hành trì đúng pháp (tức là làm thanh tịnh ba nghiệp, đoạn tận tham, sân, si), mà không tùy thuộc vào một quan điểm hay danh xưng nào. Trung Bộ Kinh, số 126, nói rằng “dù có nguyện vọng hay không, việc hành trì Phạm hạnh một cách chánh đáng thời đạt được quả vị.” Với chủ trương hành động như thế, tỷ phú Zuckerberg cũng có thể không ngoại lệ, và có lẽ đang đi trên đạo lộ ấy.
Như đã nói, chướng ngại của bồ-đề chính là vô minh và các cấu uế từ bên ngoài vào, được hiển thị qua thân, khẩu, ý. Và Zuckerberg dường như đang thăng hoa cuộc sống khi từng bước vén màn vô minh và buông bỏ các cấu uế ngoại lai ngang qua những việc làm của mình. Quả thực, mức độ hạnh phúc hay khổ đau của con người tùy thuộc ít hay nhiều vô minh và cấu uế ngoại lai ấy.[1] Càng ít vô minh (tức trí tuệ càng nhiều) chừng nào thì người ta càng dễ dàng buông bỏ những cấu uế ngoại lai chừng ấy, và ngược lại.
Có thể Zuckerberg không hề biết hay nghĩ đến danh xưng ‘bồ-đề’ hay ‘chánh giác’ gì cả, nhưng những thăng hoa hạnh phúc trên đạo lộ buông bỏ của anh (mà người Phật tử gọi là đạo lộ đưa đến bồ-đề) thì không thể phủ nhận. Việc Zuckerberg dấn thân làm từ thiện là một biểu hiện của sự buông bỏ như thế, và đặc biệt là tìm thấy hạnh phúc thông qua việc xây dựng hạnh phúc cho người khác. Như vậy là anh đã phát bồ-đề tâm và hành bồ-tát hạnh (nói theo ngôn ngữ Phật học) trong ý nghĩa đích thực của nó mà không cần một danh xưng nào hết. Tuy nhiên, con đường đạt đến đích bồ-đề theo Phật giáo Đại thừa là một hành trình dài và đòi hỏi một tâm vị tha và kiên định, những yếu tố mà hiện tại ít nhiều anh đang có.
Khái niệm “Bồ-tát hạnh” có nguồn gốc từ văn học Phật giáo Nguyên thủy, được minh họa rõ nét nhất qua tập Bổn Sanh (Jātaka –Chuyện Tiền Thân Đức Phật). “Bồ-tát” trong thời kỳ văn học này là danh xưng được sử dụng chỉ cho đức Phật trong nhiều kiếp trước, “khi Ngài chưa thành Phật, còn là Bồ-tát”. Qua đó, Bồ-tát được thấy đã sống trong nhiều kiếp dưới nhiều hình thức khác nhau, không chỉ làm người mà còn làm chim, làm thú… Điều đáng quan tâm là, dù ở trong sanh loại nào, Ngài đều thể hiện một tính cách thông minh, năng động và sáng tạo trong cách ứng xử để bảo vệ chân lý và lợi ích cho số đông. Có nhiều mẩu chuyện cho thấy Ngài đã hy sinh thân mạng của mình vì sự bình an và hạnh phúc của đồng loại. Tất cả những việc làm này của Ngài được gọi là “bồ-tát hạnh” có đủ trí tuệ và từ bi, và là tấm gương đạo đức gần gũi với con người. Khái niệm “bồ-đề tâm” chưa xuất hiện trong thời kỳ văn học này.
Trong Phật giáo của thời kỳ sau, bồ-tát hạnh được ứng dụng một cách linh hoạt như là tư tưởng quan trọng của Đại thừa. Người Phật tử Đại thừa hành bồ-tát hạnh dường như muốn noi theo những việc làm mà chính đức Phật đã làm khi Ngài còn là Bồ-tát, chứ không phải noi theo những giáo pháp được Ngài thuyết giảng sau khi Ngài thành Phật. Họ nhận thức rằng đức Phật đã từng luân chuyển trong thế giới luân hồi như bao nhiêu chúng sanh khác, nhưng nhờ những công hạnh như thế Ngài mới chứng được quả vị Bồ-đề. Trên cơ sở đó, ai cũng có khả năng thành tựu bồ-đề nếu họ thực hành bồ-tát hạnh như Ngài.[2] Người Phật tử Đại thừa hành bồ-tát hạnh luôn luôn tâm niệm như vậy.
Tuy bồ-đề là lý tưởng, là đích đến của bồ-tát hạnh, nhưng trên thực tế, chỉ có hành động mới thật sự được quan tâm và là nội dung hai đặc tính của bồ-tát hạnh, đó là từ bi và trí tuệ. Những đặc tính này chắc chắn không phải không có trong Zuckerberg.
Với quan điểm hành động như thế, việc Zuckerberg hành bồ-tát hạnh là điều có thể nhận thức được. Nếu bồ-tát hạnh được thực thi chỉ vì mục đích thiết thực là cứu khổ, ban vui mà không vì một học thuyết hay giáo lý nào từ kinh điển, thì bồ-tát hạnh là những hình thái từ thiện chân chính được thấy trong thế giới chúng ta, và nó không bị hạn cuộc trong một học thuyết tôn giáo nào. Mặc dù lòng trắc ẩn và tình người là động cơ ban đầu cho hành động của họ, nó có thể dần dần trở thành một lý tưởng nếu được un đúc và tích tập lâu dài. Quả thật, có người đã quên mình hay hy sinh mình để giúp người khác. Lý tưởng như thế có thể chăng đang ở trong một mức độ nào đó của bồ-đề tâm mà một Phật tử hành bồ-tát hạnh đang thực hành? Chúng ta cần đặt qua một bên các quan điểm tín ngưỡng để nhận ra những giá trị đích thực của việc giúp đời cứu người mà Zuckerberg và nhiều người khác đã dấn thân.
Sống trên đời, dù trong hình thức nào, ai cũng mong cầu và tìm kiếm hạnh phúc. Nhưng vì quan niệm về hạnh phúc không giống nhau nên con người có những khuynh hướng tìm cầu hạnh phúc khác nhau: hoặc vật chất, hoặc tinh thần, hoặc cả hai. Tuy nhiên, do hạnh phúc là một trạng thái thuộc tâm hay tâm lý, nên khó có một định nghĩa hạnh phúc thỏa đáng. Phật giáo không trực tiếp định nghĩa hạnh phúc, mà chỉ xác định rằng khi nào không có khổ thì khi đó có hạnh phúc. Đó là lý do Phật giáo nhằm chỉ ra sự thật khổ mà con người đối diện, rồi chỉ ra nguyên nhân của nó để đoạn trừ. Nguyên nhân của khổ được nói chính là “tham ái”, đưa đến chấp thủ: cái này ‘là của tôi’, ‘là tôi’, ‘là tự ngã của tôi’. Để đoạn trừ tham ái và chấp thủ ấy, phương pháp thường được Phật giáo Đại thừa nhiệt tình khích lệ là hãy sống buông bỏ vì hạnh phúc của người khác, hãy hy sinh lợi ích của riêng mình cho đến chỗ vô ngã (chỉ còn hành động hy sinh mà không thấy có mình trong đó). Phật giáo Nguyên thủy cũng cho rằng làm lợi ích cho mình là làm lợi ích cho người khác, và ngược lại. Kinh Tương Ưng (S.v,168) dạy: “Trong khi hộ trì cho mình, này các Tỷ-kheo, là hộ trì người khác. Trong khi hộ trì người khác, là hộ trì cho mình.” Phật giáo cho rằng không có một cái gì tồn tại độc lập trong cái thế giới duyên sinh này.
Hạnh phúc thực chất là tất cả những gì trong thế giới xung quanh ta. Một nỗi buồn nào đó bỗng nhiên ập đến khiến cho tất cả những niềm vui đang có vụt biến mất.
Giàu có thôi vẫn không đem lại hạnh phúc. Liệu tầng lớp giàu có ở Trung Quốc có an lòng không khi đối diện với thống kê rằng người dân Trung Quốc không kính trọng họ? Theo Lu Xueyi, nhà nghiên cứu của Viện Khoa học xã hội Trung Quốc, các nhà triệu phú nước này có “cảm giác bất an” là “do xu hướng của xã hội vừa ghét vừa ghen tị với những người giàu.” Đây thật ra chỉ là đánh giá bề ngoài. Vấn đề căn để là ở chỗ “Họ có chánh mạng không (cách làm giàu)?” và “Họ có lòng trắc ẩn đối với tầng lớp nghèo khổ không?” Nói cách khác, trong mắt người dân, cách làm giàu và cách sử dụng đồng tiền của họ là không đáng được kính trọng. Thật là không ổn khi tìm thấy hạnh phúc của mình trên khổ đau của người khác. Nếu họ có hạnh phúc thì ắt hẳn đó là những thứ hạnh phúc vị kỷ, đê tiện và tạm bợ; còn sự bất an thì lại quá rõ ràng khi họ luôn mang trong mình tâm trạng rằng thế giới xung quanh đang rình rập. Tự đặt mình biệt lập với con người và thế giới xung quanh, người ta càng cảm thấy hoảng hốt và bi thảm khi kết thúc cuộc đời bằng nhận thức rằng tất cả (những gì ‘của tôi’, ‘là tôi’) đều trở thành của ‘thiên hạ’. Sống một cuộc sống bất an thì chết cũng chẳng lành.
Zuckerberg đã làm giàu bằng chính công sức và trí tuệ của anh (chánh mạng), đồng thời sẵn sàng mở lòng san sẻ những gì anh có cho người khác; cả hai mặt, anh đều đáng được tôn kính.
Anh hẳn đã hơn người trong việc tìm cầu hạnh phúc. Hạnh phúc của anh không dừng lại ở sự giàu sang và hưởng thụ; hạnh phúc của anh không dừng lại ở tuổi trẻ tài cao; hạnh phúc của anh không dừng lại ở đứa con cưng Facebook; hạnh phúc của anh không dừng lại ở danh tiếng trọng vọng; và có lẽ hạnh phúc của anh cũng không dừng lại ở công tác từ thiện. Nhưng anh có tất cả. Và tất cả đã tạo ra cho anh một hạnh phúc bao la, không biên giới.
Có lẽ đối với anh thế giới này là một thực thể duyên sinh nên anh đã và đang tìm cách kết nối thành một mối tương quan sinh tồn, điển hình được thấy qua mạng xã hội Facebook mà anh làm chủ, cũng như qua công tác từ thiện mà anh đã dấn thân. Nếu nhìn được như vậy, anh đúng là đang thực hành bồ-tát hạnh, và lấy con người và thế giới này làm môi trường tốt để nuôi dưỡng cho mình một hạnh phúc cao cả.[3]
Không phải vô cớ mà chàng trai 26 tuổi Zuckerberg được tạp chí Time (Mỹ) ưu tiên dành cho danh hiệu “Nhân vật của năm 2010” dù tên tuổi của anh được truy cập trên xa lộ thông tin online thua xa Julian Assange, chủ trang Wikileaks, người đã làm xáo trộn ngoại giao quốc tế. Điều này cho thấy cái thiện được tôn vinh. Đáng nói là danh hiệu đó của anh được hầu hết cư dân mạng tán đồng và hết lòng ngưỡng mộ. Hạnh phúc chân thật đang chào đón những ai sống với tâm từ bi và trí tuệ như ông chủ Facebook này.
Thích Tâm Hạnh
(Văn hóa Phật giáo, số 137)
[1] Cấu uế ngoại lai là những pháp sanh khởi do sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) đưa đến những cảm thọ vui - buồn, lạc - khổ, ưa - ghét, v.v. Những pháp ấy hoặc bị tham đắm hoặc bị ghét bỏ do được ưa thích hoặc không được ưa thích; hay nói cách khác chúng là điều kiện làm phát khởi tham, sân, si. Con người do vậy trở thành bị trói buộc và vầng quanh các cảm thọ vị kỷ và các chấp thủ cá nhân. Những pháp như thế do duyên từ bên ngoài mà có, nên chúng được gọi là những cấu uế từ ngoài vào. Việc buông bỏ bất kỳ những gì ‘mình có’ chính là buông bỏ cấu uế từ ngoài vào, và đó là con đường đưa đến chứng đắc bồ-đề. Buông bỏ tỷ lệ nghịch với trói buộc và tỷ lệ thuận với thăng hoa hạnh phúc.
[2] Quan điểm này dẫn đến hai mục đích trong tư tưởng Bồ-tát hạnh của Đại thừa: “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh.”
Những ngày cuối năm, khí hậu đột ngột bất thường. Mưa, gió, bão, tuyết, chẳng còn biết đâu là Xuân, Hạ, Thu, Đông nữa. Ngồi trong am thất, tôi đành mở cái máy sưởi cũ, hoan hỷvới âm thanh khò khè, rên rỉ của nó còn hơn là chịu lạnh. Hạnh phúc chán!
Pha ly trà nóng để cầm cho ấm tay, uống cho ấm bụng, rồi ngồi vào bàn viết, mở máy, đọc báo “cọp” trên Internet. Bài đầu tiên nhìn thấy là của nhà báo Trần Khải, với những giòng“Không biết thế giới đã từng có thời nào người ta ngẩng đầu lên chỉ thấy mưa hoa khắp trời hay không; nhưng thời của chúng ta thì chỉ thấy phi tiêu rợp trời. Sơ sẩy một chút là trúng ngay phi tiêu liền, mà không hề thấy được phe nào phóng ra và nhắm vào phe nào. Trời ạ, cứ lên Internet mà xem, phi tiêu bắn như mưa, còn hơn là trong truyện Cô Gái Đồ Long …”
Nội dung bài báo nói về “phi tiêu rợp trời”, nhưng người đọc như tôi, đọc qua đoạn này lại chỉ mơ màng ở câu “mưa hoa khắp trời”. Thế là, tôi tạm ngưng đọc báo, mời bạn cùng uống trà với tôi đây.
Nhà báo thắc mắc không biết thế giới đã từng có thời nào người ta ngẩng đầu lên chỉ thấy mưa hoa khắp trời hay không, nhưng không nói rõ thế giới nào? Còn bạn, tôi chắc bạn biết khá nhiều về những thế giới đầy mưa hoa đó, phải không? Bạn hãy dùng trà cho ấm đã, vội vàng chi.
Bảy trăm Tỳ-kheo và bốn trăm Tỳ-kheo-ni đang trên đường đến vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, nơi Ưu Bà Di Hằng Hà Thượng đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin giải vài nghi hoặc:
“- Bạch Đức Thế Tôn, nếu hỏi hóa nhơn rằng người từ đâu đến? Hỏi như vậy thì phải trả lời như thế nào?
- Này Ưu Bà Di, luận về hóa nhơn, không có vãng lai cũng không sanh diệt thì đâu nên nói là có chỗ từ đó mà đến.
- Bạch Đức Thế Tôn, nếu tất cả pháp như hư không, sao Đức Thế Tôn lại nói có các sắc, thọ, tưởng, hành, thức cùng các giới xứ mười hai nhơn duyên hữu lậu vô lậu là nhiễm, là tịnh, là sanh tử Niết Bàn?
- Này Ưu Bà Di, như nói rằng: ngã, dầu có lời nói, mà thiệt không có ngã- tướng để được. Ta nói các sắc, cũng thiệt không có sắc- tướng để được nhẫn đến, nói Niết Bàn, cũng không có Niết- Bàn- tướng để được.
- Này Ưu Bà Di, trong pháp của ta, những người tu phạm hạnh, thấy tất cả pháp đều vô sở đắc mới được gọi là người chơn tu phạm hạnh. Còn người tăng thượng mạn nói hữu sở đắc thì chẳng gọi là an trụ chơn phạm hạnh. Loại người đó, nghe thâm pháp này sanh lòng kinh nghi nên chẳng giải thoát được …”(*)
Ngài Ưu Bà Di Hằng Hà Thượng hỏi mười hai câu hỏi, được Đức Thế Tôn lần lượt chỉ bày rồi truyền dạy Tôn giả A Nan:
“ Này A Nan, ta nhớ quá khứ có ngàn Đức Như Lai cũng ở tại xứ này nói pháp như vậy. Kinh này tên là Vô Cấu Thanh Tịnh, các ông nên thọ trì” (*)
Nghe tới đây, Chư Thiên cõi Dục đem muôn thứ hoa trời rải như mưa trên kim thân Đức Phật, bảy trăm Tỳ-kheo và bốn trăm Tỳ-kheo-ni đều dứt hẳn các lậu tâm, Hằng Hà Thượng Ưu Bà Di và hàng đại chúng Thiên Long Bát Bộ đều rất đỗi hoan hỷ, đón nhận mưa hoa và tín thọ phụng hành.
Bạn hiền ơi, chờ tôi châm thêm trà rồi chúng ta cùng giở Kinh Địa Tạng nhé.
Đây rồi, chúng ta sẽ lại thấy mưa hoa khi Ngài Địa Tạng bạch Đức Thế Tôn là trong đời sau, nếu có người thiện nam, kẻ thiện nữ nào, đối với Phật pháp mà có lòng cung kính thì Ngài sẽ dùng mọi phương tiện độ thoát người đó. Khi ấy, trong pháp hội có vị Bồ Tát tên là Hư Không Tạng xin chỉ bày rõ hơn về oai thần thế lực chẳng thể nghĩ bàn của ngài Địa Tạng Bồ Tát. Đức Phật bèn dạy rằng, trong đời sau, kẻ nào thấy hình tượng của ngài Địa tạng Bồ Tát , nghe kinh rồi đọc tụng sẽ được 28 điều lợi ích; nghe danh hiệu của Ngài rồi đảnh lễ hình tượng sẽ chứng nghiệm được thêm bảy điều lợi ích nữa. Những điều lơi ích này đều là sức oai thần lớn chẳng thể nghĩ bàn của ngài Địa Tạng Bồ Tát, do chính Đức Thích Ca Mâu Ni ngợi khen và tuyên bày nên “Chư Thiên từ cung trời Đao Lợi đã vô cùng hoan hỷ, rải vô lượng hương hoa, thiên y, chuỗi ngọc để cúng dường Đức Thích Ca Mâu Ni Phật và Địa Tạng Bồ Tát. Xong rồi, tất cả đại chúng trong pháp hội đều lại chiêm lễ, chắp tay mà lui ra” (+)
Bạn khen trà thơm quá! Tôi không nghĩ vậy đâu. Hương thơm từ hoa trời rải trong kinh đó! Bạn đang mở tới kinh Vô Lượng Thọ phải không? Chúng ta đã từng xúc động vô cùng khi Thầy giảng tới đoạn Tỳ-kheo Pháp Tạng, tiền thân Phật A Di Đà, quỳ trước Đức Thế Tôn xin Từ Phụ chứng minh bốn mươi tám đại nguyện. Lời phát nguyện thứ bốn mươi tám vừa dứt thì đại địa rung chuyển, hoa trời rải xuống như mưa vì Chư Thiên biết rằng với tâm từ bi rộng lớn như vậy, Ngài Pháp Tạng đã vun trồng vô lượng công hạnh của bậc Bồ Tát. Ngài sẽ thành Phật, độ vô lượng chúng sanh. Quả đúng như thế, trang kinh A Di Đà đang mở rộng trước chúng ta:
“Hựu Xá Lợi Phất, Bỉ Phật quốc độ, thường tác thiên nhạc, huỳnh kim vi địa, trú dạ lục thời, vũ thiên mạn-đà-la hoa, kỳ độ chúng sanh, thường dĩ thanh đáng, các dĩ y kích, thạnh chúng diệu hoa cúng dường tha phương thập vạn ức Phật …” (=)
Đó, thế giới của Phật A Di Đà, sáu thời đều có hoa mạn-đà-la rơi xuống như mưa, chúng sanh ở đó thường lấy giỏ, hứng hoa thơm, cúng dường tha phương thập vạn ức chư Phật…
Nói đến hoa trời, làm sao có thể không nói đến Phẩm Đại Như trong kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật vì mở đầu phẩm này đã là khung cảnh rực rỡ, ngát thơm:
“Lúc bấy giờ, Chư Thiên cõi dục cõi sắc đem hương bột chiên-đàn cõi trời và những hoa sen xanh đỏ hồng trắng rải xuống như mưa cúng dường Đức Phật, rồi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ dưới chân Phật mà thưa rằng: Bạch Đức Thế Tôn, vô thượng Bồ Đề của Chư Phật thật là rất sâu, khó thấy, khó hiểu, chẳng thể suy ngẫm mà biết được; chỉ có bậc trí mới biết được, ngoài ra thế gian chẳng thể tin. Tại sao vậy?” (#)
Sau khi Đức Phật chỉ bày cặn kẽ câu hỏi đầy trí tuệ này và Ngài Tu Bồ Đề trình Đức Thế Tôn về pháp Vô Ngại Tướng thì cõi Đại Thiên thế giới chấn động vì pháp mầu quá vi diệu; và Chư Thiên lại tỏ bày lòng hoan hỷ vô biên qua mưa hoa và hương bột chiên-đàn rải trên kim thân Đức Phật và ngài Tu Bồ Đề.
Nhưng có lẽ hoa trời nhiệm mầu nhất là ở pháp hội Liên Hoa, trong núi Kỳ-Đà-Quật, thành Vương Xá. Pháp hội có mặt hầu hết các vị Đại A La Hán, các vị Đại Bồ Tát, các vị Thiên Tử, Đại Tự Tại Thiên Tử, các hàng Thiên Vương, A Tu La Vương, khắp hàng Chúng, Trời, Rồng ..vân vân … nghìn muôn ức đều về câu hội.
“Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn vì hàng tứ chúng vây quanh cúng dàng cung kính, ngợi khen tôn trọng, vì các vị Bồ Tát mà nói kinh Đại Thừa tên là Vô Lượng Nghĩa Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm.
Nói kinh này xong,Đức Phật ngồi xếp bằng, nhập vào chánh định Vô Lượng Nghĩa Xứ. Thân và tâm của Phật đều không lay động.
Khi đó, trời mưa hoa Mạn-đà-la, hoa Ma-ha-mạn-đà-la, hoa Mạn-thù-sa, hoa Ma-ha-mạn-thù-sa, rải trên Đức Phật cùng hàng đại chúng; khắp cõi trời, sáu điệu vang động” (0)
Bạn ơi, bạn có tưởng tượng được khung cảnh cực kỳ hoành tráng này không? Thế giới nào có thể đẹp đẽ hơn, trang nghiêm hơn, rực rỡ hơn, mầu nhiệm hơn, khi nơi đó, Đức Phật sẽ tuyên một pháp lớn, vi diệu nhất, một pháp gom trọn những pháp-phương-tiện mà Đức Phật từng truyền dạy trước đây. Đó là câu:
“Mọi chúng sanh đều có Phật tánh như nhau. Ta là Phật đã thành. Các con là Phật sẽ thành”.
Tôi biết vì sao mở tới trang mưa hoa bát ngát này bạn lại tư lự, buồn rầu. Tôi cũng đang nghĩ như bạn vậy. Nếu chúng sanh biết Tín, Nguyện, Phụng, Hành được cốt tủy lời Phật dạy trong pháp hội này thì thế giới nào, thời gian nào chúng ta ngẩng mặt nhìn trời mà chẳng thấy mãn-thiên-hoa-vũ (rợp trời mưa hoa); Tâm Phật tạo cảnh Phật thì làm sao mãn-thiên-phi-tiễn (đầy trời phi tiêu) có thể len vào được.
Có vị nào gặp nhà báo, thử nhắc khẽ về những thế giới mãn-thiên-hoa-vũ, may ra ông nhà báo đỡ buồn giữa thế giới mãn-thiên-phi-tiễn này.
Diệu Trân
Như-Thị-Am,
------------------------
(*) Kinh Đại Bảo Tích, phẩm pháp-hội Hằng Hà Thượng Ưu Bà Di – Thích Trí Tịnh dịch.
(+) Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện – Thích Trí Tịnh dịch.
(=) Kinh A Di Đà.
(#)Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật, phẩm Đại Như – Thích Trí Tịnh dịch.
(0)Kinh Pháp Hoa, phẩm Tựa – Thích Trí Tịnh dịch.








