Cao Huy Thuần
________________________________________
Tôi học lớp ba trường huyện cách đây hơn nửa thế kỷ. Vốn liếng trí thức , văn chương của chúng tôi thời đó nằm gọn trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư. Đây là một bài thơ tôi thuộc lòng từ thời đó đến bây giờ: bài "Lính thú đời xưa". Bài thơ chẳủng hay gì, lại không thấy đề tên tác giả. Không tác giả, có lẽ là ca daọ Mà ca dao thì đáng lẽ phải hay hơn. Nhưng đó là ý kiến của tôi về sau nàỵ Thuở đó, thơ trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư phần nhiều là như vậy, chẳng hay, nhưng có vần có điệu, đọc lên cũng thấy thợ. Bài "Lính thú đời xưa" khá dài, chia thành hai phần.

Bài thứ nhất : Lính thú đời xưa.
Ngang lưng thì thắt đai vàng
Đầu đội nón dấu vai mang súng dài.
Một tay thì cắp hỏa mai.
Một tay cắp giáo quan sai xuống thuyền.
Thùng thùng trống đánh ngũ liên.
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa.

Bên cạnh bài thơ có vẽ hình một người đàn bà nông dân bế đứa con nhỏ, tiễn chồng ra đi. Ngày nay, người ta tiễn nhau ở bến xe, ở nhà ga, ở sân bay. Thuở trước, biệt ly diễn ra trên bến thuyền. Thuyền đi chậm, sông nước mênh mang, nhìn theo không biết bao giờ mới hút bóng. Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa. Nước mắt của ai như mưa? Của người chồng bước chân xuống thuyền? Chắc không phải, vì đàn ông đâu có khóc như vậy! Nhưng cũng có thể người chồng khóc như mưa trong lòng. Khóc như thế, nỗi buồn không khô được, cứ ướt mãi. Thuyền trôi trên nước , người chồng trôi trong nước mắt. Khóc như mưa, chắc phải là người vợ. Người chồng vừa bước chân xuống thuyền thì mưa đã ào ào tuôn trên mắt người vợ đứng trên bờ nhìn theo. Người đi người ở đều ướt sũng nước mưa. Mưa ướt sũng bến đò. Lúc còn nhỏ, đọc câu thơ, tôi bùi ngùi. Lớn lên, hiểu thêm rằng biệt ly là khổ. Lớn lên nữa, già đi, lại chột dạ, thấy mình lúc nào cũng như đang tiễn biệt một cái gì, tiễn một niềm tin bị cuộc đời đánh cắp, tiễn một quê hương bỗng nhiên phũ phàng, tiễn bóng câu qua cửa sổ, tiễn cả chính mình, tiễn mình trong từng phút từng giây. Nhưng đó là chuyện khác. Trở về với bài "Lính thú đời xưa" mà Quốc Văn Giáo Khoa Thư có ghi rõ là "tiếp theo" :

Lính thú đời xưa (tiếp theo)
Ba năm trấn thủ lưu đồn
Ngày thời canh điếm tối dồn việc quan.
Chém tre đẵn gỗ trên ngàn
Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai.
Miệng ăn măng trúc măng mai
Những dang cùng nứa biết ai bạn cùng
Nước giếng trong con cá nó vẫy vùng.

Khổ thay là đời lính thú! Đầy ải nơi đèo heo hút gió, quần quật tay chân hết sáng đến tối, anh lính muốn than một tiếng cũng không biết kêu với ai ngoài tre, dang, nứa, điệp điệp trùng trùng. Tre ơi, dang ơi, nứa ơi, có biết chăng tôi đây đang khổ với tấm thân này! Khổ với tấm thân .... Lúc học lớp ba, tôi chưa hiểu có thân là có khổ. Chỉ hiểu nỗi khổ biệt ly. Cho nên biết bùi ngùi với bài thơ thứ nhất mà không rung cảm với bài thơ tiếp theo. Chỉ có một câu làm tôi thắc mắc mãi, từ nhỏ đến lớn, từ trẻ đến già, từ đó đến nay. Câu thơ thật lạ kỳ, như ở đâu bay vào bài thơ lạ hoắc, lãng xẹt. Đó là câu cuối : Nước giếng trong con cá nó vẫy vùng . Tại sao bỗng có con cá vẫy vùng trong giếng ở cuối một bài thơ nói về anh lính thú từ biệt vợ sống đầy ải trên núi rừng? Giữa anh lính với con cá chẳng có một liên hệ gì cả. Cách cấu trúc của câu thơ cũng kỳ quặc : hai câu tám đi tiếp theo nhau : Những dang cùng nứa biết ai bạn cùng Nước giếng trong con cá nó vẫy vùng. Trong một bài thơ lục bát ngày xưa, có khi tác giả phá thể, chấm dứt bài thơ ở câu sáụ Nhưng nếu thế , tại sao lại không chấm dứt như thế này : Giếng trong con cá vẫy vùng Tại sao lại thêm chữ "nó" quái gở vào câu thở Không phải con cá vẫy vùng mà là con cá nó vẫy vùng. Tựa như con cá với nó là hai, có con cá và có nó ở trong giếng đùa nghịch với nhau, nó vẫy vùng nơi con cá, con cá vẫy vùng nơi nó. Quái, tại sao có con cá hạnh phúc như vậy ở đây?. Tôi chịu thua . Mà cũng chẳng ai giải thích được cho tôi. Tôi đố ai giải thích nổi! Câu thơ nhảy vọt từ chuyện khổ qua chuyện vui, không đầu không đuôi, không gốc không ngọn, chẳng nghĩa lý gì cả. Anh lính thú nhớ vợ, mơ về chăn gối ấm êm bên cạnh vợ? Anh lính thú kiệt sức giữa lúc chém tre đẵn gỗ bỗng thấy loé ra trong một cơn mê sảng hình ảnh thanh bình của giếng nước ở quê nhà? Bài thơ quá giản dị, chất phác, không cho phép tôi diễn dịch cao xa. Nhưng câu thơ nằm mãi trong đầu tôi vừa như một hình ảnh êm dịu, vừa như một vũ trụ bí mật quyến rũ, mời mọc, thách thức óc tưởng tượng của tôi. Tôi không tóm được nó, cho nên nó dẫn tôi đi lang thang .

Tôi lang thang trong thế giới Thiền. Đừng bắt tôi giải thích tại sao. Trong Thiền không có tại sao. Nó thế là nó thế. Trong Thiền không có đầu đuôi, khúc chiết, lý luận. Nó đập vỡ lý luận. Đó là thế giới lý tưởng của câu thơ lớp ba mồ côi luận lý. Thế giới của những câu cuối lấc cấc, mẹ gà con vịt. Đừng bắt tôi giải thích ; hãy lang thang với tôi trong dăm ba câu chuyện thiền . Một ông sư hỏi Phong Huyệt: " Người nào không hiểu thì chẳng bao giờ thắc mắc; tại sao vậy?" Phong Huyệt đáp : "Con rùa đi trên đất thì để lại vết chân trong bùn". Một ông sư khác hỏi Triệu Châu : "Muôn vật quy về Một; vậy Một quy về đâu?". Triệu Châu trả lời: "Hôm qua, đến huyện Kinh, ta có may một cái áo nặng bảy cân." Có người hỏi Động Sơn :"Phật là ai ?" Trả lời: "Ba cân vải". Người kia đem câu hỏi của Động Sơn hỏi Trí Môn. Ông này cắt nghĩa: "Một mớ hoa, một mớ lụa". Rồi hỏi lại : - Hiểu chưa? - Dạ chưa hiểu - Tre trúc phương nam, tùnh bách phương bắc. Lại có người đem cùng câu hỏi đá hỏi Hòa Sơn: "Phật là ai?" Trả lời: "Ta biết đánh trống, tùng tùng tùng, cắc cắc tùng". Vui thật là vui. Vui như thế thì hãy đọc thêm vài chuyện nữa.

1
• 2
• 3
• 4
• 5

Hai Nẻo Vào Địa Ngục

Mỗi khi thù ghét một ai đó chúng ta thường nguyền rằng : “Mày chết thế nào cũng vào Địa Ngục” . Có Địa Ngục không ?! Địa Ngục có dễ vào không ?!

Từ vô lượng kiếp trước, khi ấy Địa Tạng Vương Bồ Tát còn là một Thánh Nữ. Khi ấy Thánh Nữ vì lòng hiếu mà xuống Địa Ngục tìm cứu mẹ. Thánh Nữ gặp Quỷ Vương Vô Độc là chúa tể Địa Ngục Vô Gián. Thánh Nữ hỏi Quỷ Vương : “ Tôi phải làm sao để vào được Địa Ngục” , Quỷ Vương trả lời : “Nếu chẳng có Uy Thần tất là do Nghiệp Lực (Kama) , trừ hai sự ấy thì chẳng bao giờ vào được” .

Như thế thật ra Địa Ngục đâu có dễ vào. Hoặc là Thánh Nhân đắc Đạo hoặc là người do nghiệp lực tàn ác mà đọa vào. Hai nẻo vào một chỗ mà thật khác nhau một trời một vực .

Một đàng là Chí Thiện mà vào Địa Ngục ! Một đàng là Chí Ác mà vào Địa Ngục ! Một đàng là vào Địa Ngục để cứu độ chúng sinh ! Một đàng là vì hại chúng sinh mà mở ra Địa Ngục cho mình !

Địa Tạng Vương Bồ Tát thường có hình tượng là một vị Thánh Tăng ngồi trên con Thanh Sư tay cầm gậy Tích Trượng . Nên có trong Kinh Bản Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát có câu : “Rung Tích Trượng mở toang Địa Ngục !” . Tôn giả Mục Kiền Liên cũng thường có hình tượng cầm cây Tích Trượng, vì ngài khi xưa cũng từng vào Địa Ngục để cứu mẹ. Ngài Đường Tam Tạng khi xưa khi nhận phó thác của Quán Thế Âm Bồ Tát cũng được ngài trao cho Tích Trượng dặn rằng : “Cầm gậy Tích Trượng này thì không sợ vào Địa Ngục” . Như vậy rõ ràng cây gậy Tích Trượng này rõ ràng là một Pháp Khí để ra vào Địa Ngục . Tôi cứ thắc mắc mãi điều này ! Cây gậy này có gì khác mà lại lợi hại như vậy.

Đến sau này đọc các tài liệu về Phật Giáo Mật Tông tôi mới được biết hình tượng ở đầu cây Tích Trượng chính là biểu trưng cho Tính Không của Phật Giáo !

Như vậy Tính Không chính là lợi khí để ra vào Địa Ngục an toàn ( Không dính mắc ) , Tính Không là Pháp lợi cứu độ chúng sinh trầm luân trong đau khổ nơi Địa Ngục ! Tính Không là chuyển Phàm thành Thánh .

Địa Ngục là có thật ! nó chẳng do ai tạo ra để đọa đày chúng ta ! Nó là do chính Tâm Thức tích chứa điều xấu xa tạo thành . Địa Ngục đày đọa ta là do ta mở ra ! Địa Ngục đề ta vào cứu độ chúng sinh cũng do chúng ta mở ra ! Hai nẻo cũng vào Địa Ngục mà khác nhau ! Vào vì bất thiện thì không đóng được ! Vào để cứu độ chúng sinh thì phá bỏ Địa Ngục dễ dàng ! Thật giản đơn !


Minh Kiến

Theo Dấu Tích Vương Triều Tây Sơn: Từ Chùa Báo Quốc Đến Chùa Thiền Lâm

Bên cạnh núi Bân đã được đầu tư, tôn tạo, dấu tích vương triều Tây Sơn được sử sách chép lại ở Huế hiện nay là các ngôi chùa ở vùng tây nam kinh thành.

Cổng tam quan chùa Báo Quốc, nơi nhà Tây Sơn từng trưng dụng

Từ chùa Báo Quốc

Theo Đại Nam thực lục, chùa Báo Quốc trên đồi Hàm Long dưới thời Tây Sơn được trưng dụng làm kho muối. Dư địa chí Thừa Thiên-Huế cho biết chùa Báo Quốc tọa lạc trên đồi Hàm Long trên đất xưa gọi là làng Thụy Lôi, gần với xóm Lịch Đợi. Từ đây nhìn xuống hướng đông là đường Điện Biên Phủ hiện nay (con đường dẫn lên đàn Nam Giao) và nhìn về hướng bắc là ga xe lửa. Chùa do Hòa thượng Giác Phong, người Quảng Đông (Trung Quốc), khai sơn vào cuối thế kỷ 17 dưới đời vua Lê Dụ Tông và đặt tên là Hàm Long tự. Sau đó Võ vương Nguyễn Phúc Khoát ban sắc tứ Báo Quốc tự vào năm 1747. Hiện vẫn còn tấm biển thếp vàng và những bức liễn từ thời ấy. Thời Tây Sơn, chùa bị sử dụng làm công xưởng.

Sử sách triều Nguyễn và cả tư liệu của chùa hiện nay không có ghi chép gì nhiều về thời gian nhà Tây Sơn trưng dụng chùa trong hoàn cảnh như thế nào và vì sao, ngoài vài dòng vắn tắt trong Đại Nam thực lục.

Đến năm 1808, để báo hiếu mẹ là Hiếu Khương Hoàng Thái hậu, vua Gia Long trùng tu chùa, xây tam quan và đúc một đại hồng chung nặng 826 cân, cao 1,4m, đường kính 1,2m. Vua đặt tên là Thiên Thọ tự, nhưng về sau vì lăng Gia Long cũng gọi là Thiên Thọ lăng nên vua Minh Mạng đổi lại tên như cũ. Vua Minh Mạng trùng tu chùa vào năm 1824 và vua Tự Đức góp phần tôn tạo vào năm 1858. Khu mộ tháp có tháp tổ Giác Phong và các vị kế thế như Phổ Tịnh, Viên Giác, Diệu Giác.

Hiện nay, chùa Báo Quốc là một ngôi chùa cổ có cảnh quan rất đẹp, với sân vườn rộng. Dưới chân núi có giếng Hàm Long, nước rất trong, tương truyền trước đây nước giếng chỉ để cho vua dùng.

Đến chùa Thiền Lâm

Dọc theo tuyến đường Điện Biên Phủ ngược lên dốc Nam Giao, trên dãy Long Sơn (núi rồng) còn có chùa Thiền Lâm.

Theo Lịch sử Phật giáo xứ Huế, đất Thiền Lâm ngày xưa, vào đời các chúa, từ Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) kéo dài cho đến đời Tây Sơn (1777-1801), còn rất rộng; theo địa hình hiện tại là từ trước chùa Từ Đàm, kéo theo đường Nam Giao cựu lộ và qua cả mấy vùng từ chùa Vạn Phước kéo lên cho tận đàn Nam Giao. Trong sách Hải ngoại kỷ sự (viết năm 1695), hòa thượng Thạch Liêm tả cảnh chùa Thiền Lâm như sau: “Đi quanh hai ba lớp núi, nghe trong rừng tre có tiếng trống chuông”… hay: “Chùa dựng đầu cầu cao chất ngất” với “Lối tiều quanh núi khi mờ tỏ, lều cỏ ven đồi khoảng hở liền”.

Chùa Thiền Lâm do ngài Khắc Huyền khai sơn để hoằng truyền phái Tào Động, lúc này đã có Quả Hoằng Quốc sư kiêm nhiệm. Bia tháp tổ Khắc Huyền đề “Khai sơn Thiền Lâm viện”. Vào năm 1695, chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) và Hòa thượng Thạch Liêm khai đại giới đàn Thuận Hóa ở đây, và từ năm đó về sau chùa Thiền Lâm trở thành một thiền viện lớn. Cho đến thời Cảnh Thịnh, Bùi Đắc Tuyên đã chiếm dụng chùa làm phủ.

Sau khi vua Quang Trung băng hà, Bùi Đắc Tuyên được thăng chức Thái sư đã chuyên quyền gây chia rẽ nội bộ hoàng tộc của triều Tây Sơn. Lúc này, Điện tiền tướng quân Võ Văn Dũng được thăng chức Tư đồ và được phong từ tước Quận công lên Quốc công, có thế lực rất mạnh. Ông đã đưa quân bí mật bao vây chùa Thiền Lâm bắt Bùi Đắc Tuyên. Nhưng đêm ấy Bùi Đắc Tuyên ngủ lại trong cung nên Võ Văn Dũng xông thẳng vào cung yêu cầu vua Cảnh Thịnh giao người. Trước thế không thể ngăn cản, vua Cảnh Thịnh đành phải giao nộp Bùi Đắc Tuyên. Sau đó Võ Văn Dũng còn cho người vào Qui Nhơn bắt Bùi Ðắc Trụ (con Bùi Đắc Tuyên) đang giữ việc quân ở nơi ấy, một mặt giả chiếu ra Bắc Hà bắt luôn Ngô Văn Sở. Sau khi bắt hết phe đảng Bùi Đắc Tuyên, Võ Văn Dũng đem nhốt vào cũi dìm xuống sông cho đến chết (1795). Sách Hoàng Lê nhất thống chí thuật lại chuyện này như sau: “(Võ Văn) Dũng đến nhà trạm Hoàng Giang, gặp trung thư lệnh là Trần Văn Kỷ phạm tội bị đày ở đó. Dũng cùng ngủ đêm với Kỷ, Kỷ bèn nói với Dũng rằng: “Quan thái sư (chỉ Đắc Tuyên) chức vị đã cao tột bậc, trong tay nắm quyền làm oai làm phúc, lại đẩy ông ra ngoài, nếu có sự chẳng lợi cho nhà nước, các ông phỏng còn giữ được đầu chăng? Bây giờ chẳng sớm liệu đi, sau này ăn năn sao kịp?”. Dũng vốn tin và trọng Văn Kỷ, bèn cho lời Kỷ là phải. Hôm sau, Dũng đem quân bản bộ gấp đường quay về, hợp mưu với Thái bảo Hóa, bắt phe đảng Đắc Tuyên bỏ ngục; lại sai người vào Qui Nhơn bắt Đắc Trụ và sai Đô đốc Hài ra thành Thăng Long lập mẹo bắt Ngô Văn Sở đưa về, rồi thêu dệt thành tội trạng làm phản mà đem dìm xuống nước cho chết hết. Quang Toản không thể ngăn chặn nổi, đành chỉ khóc lóc mà thôi”.

Sách Đại Nam nhất thống chí, chép về giai đoạn chùa Thiền Lâm bị Bùi Đắc Tuyên chiếm dụng như sau: Tương truyền chùa do Thạch Liêm hòa thượng dựng (đoạn này Đại Nam nhất thống chí chưa chính xác, vì theo sách Hải ngoại kỷ sự của hòa thượng Thạch Liêm, khi ông đến đây chùa đã có từ trước, do Hòa thượng Khắc Huyền khai sơn, như đã dẫn ở trên). Sau Bùi Đắc Tuyên thái sư triều ngụy Tây dùng làm nhà ở, Đắc Tuyên bị hại, người dân trong ấp nhân nền cũ chữa lại, đến khoảng đời Gia Long bản triều, Thừa Thiên Cao hoàng hậu bỏ tiền ra sửa lại.

Ngày nay, chùa Báo Quốc và chùa Thiền Lâm đều đã được các thế hệ tiếp nối trùng tu tôn tạo lại, trở thành hai ngôi chùa lớn của Huế. Tuy nhiên, ít hai biết rằng nơi đây đã từng ghi dấu của vương triều Tây Sơn.

(Theo Thanh Niên)

http://thegioiphatgiao.net/29/02/2012/theo-dau-tich-vuong-trieu-tay-son-tu-chua-bao-quoc-den-chua-thien-lam.html

http://tiengsonghuong.wordpress.com/2011/07/27/nh%E1%BB%AFng-ngoi-chua-%E1%BB%9F-hu%E1%BA%BF/

Thế rồi mùa xuân mới cũng đã đến. Tết nay năm con rồng tuy là một huyền thoại về sự siêu việt và vinh thăng nhưng ấn tượng về một “năm Thìn bão lụt” tại Việt Nam vẫn còn đó; nó tương đương với nạn đói năm Ất dậu 1945 tại miền Bắc Việt Nam. Ai cũng hy vọng vào một tương lai tươi đẹp nhưng quên rằng nó phải được xây dựng trong một quá khứ tươi đẹp và hiện tại an lạc tri túc. Có hay không những chất liệu đó để thiết lập nên những lầu các an toàn vững chãi!

Này em! Ngoài trời kia vẫn rộn ràng chim én bay và hoa mai đơm cành rực nắng – Nắng nhuộm vàng hoa mai hay hoa mai mang màu nắng là một sự hòa hợp tuyệt diệu của đất trời mà không có một họa sĩ tài danh nào tô điểm nổi. Tiếng chuông chùa chầm chậm ngân xa, hương trầm theo gió bay khắp nẻo. Trên con đường đến chùa áo vàng, áo xanh, hồng, vàng…muôn sắc nhè nhẹ tung bay, đường vắng và rộng cho đôi chân bước nhẹ thêng thang, những mỗi lo âu thường trực xin buông xuống nên lòng nhẹ bước.

Tuổi trẻ tìm đến nơi rộn ràng; người già đi đến nơi yên lắng – trong một vòm xuân mà những thế hệ có những trạng thái thụ hưởng mùa xuân khác nhau Khác với bài thơ Xuân vãn (Xuân muộn) của Giác Hoàng Nhân Tông đã viết:

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không

Nhất xuân tâm sự bách hoa trung

Như kim khám phá Đông hoàng diện

Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng

Nghĩa:

Khi trẻ chưa từng hiểu sắc không

Xuân hoa trăm sắc lại gởi lòng

Bây giờ biết rõ mùa xuân ấy

Nệm cỏ vui xem rụng cánh hồng

Nhìn thấy hoa nở biết hoa sẽ tàn, được thời niên thiếu biết đến lúc già …lẽ sắc không thật là kỳ diệu, nó chi phối hoàn toàn mọi sự mọi vật được cho là kiên cố chắc chắn nhất – nó làm cho các vị thánh hiền phải sẵn sàng buông thỏng cho cái Ta và cái của Ta tan biến vì không thể nào cưỡng lại sức mạnh của nguyên lý diệu kỳ này, muốn mạnh như nó ta phải tương đồng với nó, an tâm sống với sự vô thường xả ly và vô trụ. Trong khi hoàn vũ này đang đi vào hoại diệt; vạn vật rồi không thoát cuộc tử sinh mà nó vẫn tươi vui như cành hồng phất phơ trước gió, như đào mai từ trong gió rét gọi xuân về – nó tự hào rằng bất sinh bất diệt trước cảnh trăm hoa nở rồi lại rụng tàn – tuổi thanh xuân rồi sẽ già lão, đó là một nhành mai của Mãn Giác Thiền Sư cảnh tỉnh đại chúng – vẫn còn có một nhành mai không rơi rụng khi xuân tàn – vì nó bất sinh bất diệt – Nếu tìm thấy các bất sinh đó ta sẽ không thấy nó bị diệt – như ban sơ mới gặp tuy vẫn trắng tinh màu ký ức nhưng vẫn nhớ rằng bóng dáng này rất thân quen như cuộc tử sinh cũng là một sự thân quen mà ta đã từng trải bao lần như Thiền sư Nhất Hạnh bắt gặp khi còn trẻ:

“Như chợt thấy bóng hình em thuở trước…”

Trực diện vào vấn đề để mở toang tấm lòng đại lượng ra, để nhìn thấy chông gai dưới chân ta bước chỉ là sự tôi luyện và thử thách sự an lạc bất biến với năng lực cảm thọ của hàng trí giả – mục đích không ở bên ngoài cũng không ở bên trong nếu sen không tỏa hương trong bùn thì sen không quí; nếu sen không nở trong lửa hồng thì sẽ không ai biết có một trái tim bất diệt vẫn tồn tại từ lòng tin chắc thật không gì lay chuyển được trong một thế giới nguy vong, để hàng trăm, hàng nghìn vị bồ tát dũng mãnh từ đất hiện lên làm cuộc chấn hưng chánh Pháp, để những hạt bồ đề kham nhẫn 30 năm lẫn trong bùn đất chờ đại sự nhân duyên tùy thuận trổ sanh. Đạt Ma tổ sư 9 năm diện bích, chừng mở mắt ra nhà Lương đã diệt, nhà Tùy suy vi. Khi Nam Bắc nối liền dân số chưa đầy 30 triệu chừng chớp mắt một cái 30 năm số lượng lên gần 90 triệu… Nếu đại bi tâm vô ngại thì không lo Lương mất hay được Tùy; càng không lo dân số 25 hay 85 triệu, vì con đường Bồ Tát đi chưa bao giờ rời khỏi chúng sinh mà cầu nhập Niết bàn.

Đi cùng chúng sinh nhìn thế sự vô thường hay ảo hóa không ngừng chu chuyển với tình yêu như trẻ thơ vô tư không điều kiện. Trước khi viên tịch bác Tâm Minh Lê Đình Thám từng thốt lên câu: “Vô thường là Thường”. Mùa xuân đến rồi đi, xuân đi trăm hoa rơi rụng nhưng vẫn còn một đóa kỳ hoa thấp thoáng trổ đêm qua.

http://thegioiphatgiao.net/28/01/2012/van-con-mot-nhanh-mai.html

Một Nhành Mai – Nhạc Sĩ: Đức Quảng


Có lúc con ao ước giá như mình tan chảy vào nước, tan vào gió, vào mưa... vào hư vô, như chưa hề tồn tại trên cõi đời này… Làm người sao thật khó! Sống thì dễ nhưng sống như thế nào, sống để làm gì, sống vì cái gì, hay đơn giản sống chỉ là để sống. .. Vì thế mà đôi khi con không biết được con đang sống vì điều gì, để làm gì… Vì cha mẹ đã sinh ra con? Và cho con tồn tại trên cõi đời này…nên con phải sống? Đúng ra là con đang tồn tại, không phải con đang sống?

Có lúc con nghĩ rằng con sống để được yêu, vì tình yêu, thậm chí con sống là để chết vì yêu. Rồi có lúc con tuyệt vọng như chết đi. Trái tim con, linh hồn con như không còn cảm giác… Như thể con không còn tồn tại. Con không thể khóc, không thấy đau, không buồn khổ, nhưng nước mắt con luôn muốn trào ra… Ánh mắt con long lanh hơn, sâu thẳm và khó hiểu hơn, con lì lợm ít khi nào khóc vì mình thất bại, con chỉ khóc khi thấy mình hạnh phúc…thế mà con càng bế tắc hơn. Có lúc con sống vì công việc, vì kiếm tiền, vì sự thăng tiến... vì con muốn khẳng định mình hơn, con dành thời gian cho sự háo thắng tò mò, con muốn làm được những gì không thể, muốn biết những thứ không tồn tại, muốn tìm những gì không có. Rồi có lúc thất bại, con căng thẳng và mệt mỏi, con cảm giác cuộc đời này bất công vô nghĩa. Dường như con tuyệt vọng…

Con đã sống như vậy và tưởng chừng con như đã chết đi vì những gì con kỳ vọng, cho đó như là sự sống của chính mình… Những lúc tuyệt vọng và đau đớn ấy điều con nghĩ đến là gia đình, là cha mẹ, là những người đã cho con sự sống. “Con gái là con người ta” nhưng nỗi đau đớn của con lại luôn thuộc về cha mẹ . Con vỡ tan hạnh phúc, mẹ thắt lòng đau quặn, rơi nước mắt vì con…, cha trầm tư không nói… nhưng lòng cha ngổn ngang những xót xa. Con ích kỷ nghĩ mình là người đau khổ nhất thế gian, không để ý đến mẹ cha đang buồn khổ, muộn phiền xót thương con mà chỉ nghĩ đến mình. Ấy thế mà có lúc con lại vô tâm quên rằng con chính là lý tưởng sống của cha, mẹ. Con đã không nhận ra rằng cả cuộc đời này, cha mẹ sống là vì con, cho đến khi con thất bại vì sự tồn tại của mình trong cõi đời này. Đến lúc con nhận ra mọi thứ, chính con cũng không biết mình còn kịp để sống lại lần nữa không? Con bỏ quá nhiều thời gian để làm cho cuộc sống của mình thêm bế tắc, trong khi đó con quên đi việc quan tâm nhiều hơn đến cha, mẹ. Ngược lại mẹ, cha là người luôn dõi theo từng bước chân con, hứng chịu, đớn đau cho những thất bại của con trong cuộc sống này.

Cho đến khi con giác ngộ, vì đâu con cũng không biết nữa? Nhìn mái tóc bạc trắng của cha, đôi mắt nhân từ, muộn phiền của mẹ, con mới nhận ra cha mẹ đã già rồi, con bật khóc, giận mình bất hiếu... Nước mắt làm lòng con nhẹ nhàng hơn, thanh thản hơn, con sống không tham vọng và háo thắng như ngày trước nữa và con thường xuyên thăm hỏi mẹ cha nhiều hơn trước. Giờ đây con chọn cho mình một lý tưởng sống khác là “ TU” con tu chữ “ NHẪN” chữ “ HIẾU” và con lại một lần sống vì yêu.

Con chọn cho mình một công việc nhẹ nhàng, có ích cho cộng đồng, cho xã hội, giúp mọi người đừng sống lệch lạc giống như con. Con mang sứ mệnh đem tình yêu thương, sự hòa bình giữa con người với con người. Con ngẫm lại câu nói của một nhà văn nổi tiếng “Trái tim của con người thật kỳ diệu, nó có thể chứa đựng biết bao yêu thương mà vẫn không bao giờ chật chỗ để đón nhận thêm nữa”. Bản chất của làm người vốn có sẵn trong con mà cha mẹ cho là đạo đức và lòng nhân ái, con chọn đó làm lẽ sống cho mình.

Con chọn cho mình một tình yêu và con yêu đến mức khối óc con bị đúc bởi hình tượng của người, con yêu đến mức một lần nữa con muốn mình tan vào nước, vào gió, vào hư vô,… Nhưng khác với tình yêu mà con lý tưởng trước kia, là con yêu bằng một trái tim thanh khiết hơn, cao thượng hơn, nên cảm giác được tan ra là cảm giác con được thăng hoa, hạnh phúc nên con đã khóc và con chọn người làm lý tưởng sống cho con, con học được từ người sự vô cảm trước “HỶ, NỘ, ÁI, Ố” và sự rung cảm trước nỗi đau chung của cuộc đời.

Và con đã ngộ ra một điều, lý tưởng sống của con không thể thiếu đó là cha, mẹ. Con sống không chỉ để yêu, để làm việc…Con sống vì cha mẹ đã sinh ra con, con sống để được làm người, làm một đứa con hiếu thảo và vì con phải sống để chết đi không vô nghĩa. Con không biết cách sống mà con chọn là đúng hay chưa? Nhưng con tự tin khẳng định rằng con sẽ không bao giờ thất bại. Có chăng là con hối hận vì đã không dành nhiều thời gian để được sống như vậy nữa mà thôi…

Tùy bút của Chúc Tâm Ánh

137426865_3373186_36081326

(Từ HLT)

Img13649

Trong công việc hằng ngày của cuộc sống, biết bao nhiêu điều làm cho bạn cảm thấy không vừa lòng, khiến bạn tức giận. có nhiều nguyên nhân tác động khiến bạn bực bội, có thể do một tác động nào đó từ bên ngoài khiến bạn không vui trong lòng, lúc tâm bạn bất an, chỉ cần một lời nói hay một việc làm nhỏ của ai đó không vừa lòng cũng đủ để ngọn lửa giận dữ bùng phát trong bạn.

Cũng có thể do bản tính bạn luôn nóng giận, bạn không phát hiện được sự hiện diện của nóng giận đang nhen nhóm ngay từ đầu trong sự sống của bạn. Và cứ thế, mỗi ngày sự nóng giận mỗi tăng, tăng đến mức bạn thấy rất rõ mỗi khi bạn giận ai đó. Sự nóng giận ấy có thể là hàng rào cản rất lớn trong công việc và sự nghiệp của bạn, nóng giận khiến bạn không có được kiên nhẫn và có thể bạn đánh mất cơ hội thành công trong công việc và tình cảm. Trong khi giận, bạn có thể vất bỏ mọi thứ kể cả vật chất lẫn tình cảm mà bạn đã và đang có. Trong và sau khi giận, bạn sẽ đổ lỗi vì lý do hoàn cảnh xung quanh gây sự không hài lòng cho bạn, nhưng nếu bạn biết quán xét thì bạn sẽ thấy sự nóng giận ấy là sai dù lỗi do hoàn cảnh hay lỗi do bạn. Cơn giận không phải từ ai khác đem đến cho bạn mà cơn giận ấy là hạt giống xấu đã nằm sẵn trong vườn hoa tâm của bạn, vì chưa đủ duyên hay nói rõ hơn là chưa đủ điều kiện nên hạt giống ấy vẫn chỉ là hạt giống, chờ khi đủ duyên thì hạt giống ấy sẽ phát triển nẩy mầm, trổ lá, mỗi ngày một lớn mạnh, nếu bạn không phát hiện và ngăn chặn thì kết quả của sự nóng giận này bạn không lường trước được.
Bạn thường phải lo toan biết bao nhiêu công việc trong ngày và vì bạn không có pháp môn để tu tập lòng từ, nên vườn hoa tâm của bạn không được sự chăm sóc, tưới tẩm cho hoa tươi đẹp và loại nhổ những mầm xấu trong vườn hoa tâm của bạn.

hoa lá vđpp
Bạn không tu tập lòng từ, có nghĩa bạn không chăm sóc, tưới tẩm cho vườn hoa tâm của bạn, vườn hoa ấy sẽ bị những cỏ nguy hại nảy nở như cỏ tham, cỏ sân, cỏ si.v.v.. lấn chổ và nếu bạn giận dữ sẽ dẫn đến những bất lợi làm ta bị sụp tinh thần và cảm giác đau đớn trong cơn giận mà ra. Cơn giận sẽ làm mất đi sự phát triển phong phú trong công việc và ngăn chặn sự phát triển về trí tuệ, do đó làm nghèo đi về tiền tài cũng như về hạnh phúc, bạn sẽ không được tiếng tốt, không có nhiều bạn. Và sau khi chết, bạn sẽ tái sanh trong cõi A Tu La, không có hạnh phúc. Đó là những điều sơ lược bất lợi của những người ôm cái giận của mình mà không biết buông bỏ để chuyển hóa.
Nếu bạn biết chuyển hóa cơn giận thì bạn sẽ cảm thấy thoải mái, tinh thần không bị suy sụp, vui thú hạnh phúc trong cuộc sống, không bị những buồn phiền do tác động bên ngoài. Trí tuệ được sáng như gương không bị bụi bám mờ. Được làm bạn với nhiều bạn tốt, làm bạn được với những loài không phải người. Bạn sẽ được tiếng tốt và dễ đi vào thiền định, gương mặt luôn tươi sáng, điềm tĩnh, sau khi chết được tái sinh vào cõi tốt lành. Nếu bạn tu tập và chuyển hóa được cơn giận thì như bạn đã tháo gỡ được một quả bom nổ chậm.

Bây giờ, bạn hãy ngồi im lặng rồi bạn quán xét và điều chỉnh hơi thở vào thật sâu, bạn thở ra thật cạn. Như vậy là bước đầu bạn đã làm chủ được tâm của bạn qua hơi thở rồi đó. Trong tất cả công việc cũng vậy, bạn đánh răng, bạn nhận biết bạn đang đánh răng. Bạn đang đi, bạn nhận biết từng bước bạn đang đi, và cứ thế, bạn hãy cột tâm của bạn vào trong từng việc làm hằng ngày của bạn.
Khi một ai đó hành động hay lời nói tác động khiến bạn không vừa lòng, bạn hãy quán xét và phát hiện mầm móng giận có sẵn trong bạn đang có điều kiện nảy nỡ. Ngay lúc này, bạn hãy giữ điều hơi thở, tìm nguyên nhân dẫn đến sự bất an và bạn hãy mỉm cười với nó. Như vậy, mầm nóng giận trong người bạn không còn điều kiện để sinh trưởng nữa, mầm xấu ấy ngay tức khắc như bị một gáo nước nóng tạt vào chứ không phải gáo nước mát và chất kích thích nữa. Bạn thực tập được như vậy, có nghĩa bạn đã thành công, bạn đã chiến thắng chính bạn rồi đó. Đức Phật dạy: "Dù thắng vạn quân ở chiến trường không bằng chiến thắng chính mình, vì đó là chiến thắng cao thượng nhất".
Trong vườn hoa của bạn bây giờ đã loại bỏ được một cây không phải hoa. Nếu bạn luôn làm chủ được tâm mình, tu thiện, hành thiện thì bạn sẽ thấy vườn tâm của bạn chỉ toàn hoa và hoa mà không có bất cứ loại cỏ độc nào làm xấu vườn hoa tâm của bạn. Chúc bạn luôn thành công và gặt hái được nhiều thành quả trong việc tu tập để hoàn thiện chính mình.

Chào Tinh tấn!
Hiếu Niệm

duy tue

*

Sau đây, xin mời bạn thực tập và nhận diện cái giận qua những bài kệ của Thiền sư Nhất Hạnh để có được hạnh phúc ngay trong đời sống hiện tại.
Đánh răng:
Sáng sớm vừa thức dậy
súc miệng và Đánh răng
Cho sạch nghiệp nói năng
Miệng thơm lời chánh ngữ
Hoa nở từ vườn tâm.

Cái giận làm tôi xấu
Biết vậy tôi mỉm cười
Quay về thủ hộ ý
Từ Quán không buông lơi.
Thở vào, tôi biết tôi đang giận
Thở ra, tôi biết cái giận còn trong tôi
Cứ thở và ý thức
Cái giận dần chuyển hóa
Cứ thở và ý thức
Cái giận dần sẽ nguôi

Tập thở:
Thở vào tâm tĩnh lặng
Thở ra miệng mỉm cười
An trú trong hiện tại
Giờ phút đẹp tuyệt vời.

2281125290_925932a964

Thích Hiếu Niệm

Từ nguồn: http://lytuonglam.com/home/vi/news/Tho/Hoa-no-vuon-tam-346/

Thiền sư Thạch Liêm (1633 - 1704) - Chùa Thiền Lâm – Huế

Thiền sư Thạch Liêm (1633 - 1704) - Chùa Thiền Lâm – Huế

Thiền sư Thạch Liêm (1633 - 1704) - Chùa Thiền Lâm – Huế

Đọc Đại Nam liệt truyện tiền biên (Q.6) một trong những bộ chính sử do Quốc Sử Quán triều Nguyễn soạn; và bộ Hải ngoại kỷ sự của Đại Sán Hán Ông; có ba điều làm cho người ta thấy rất là khó hiểu; nhưng ba điều khó hiểu này lại là nguyên nhân cho sự phát triển của Phật giáo Thuận Hóa về sau.

- Điều thứ nhất là Anh Tông Hoàng Đế (tức là Ngãi Vương Nguyễn Phúc Thái (1687-1691) thường phái Tạ Nguyên Thiều qua Trung Quốc cầu cao Tăng; nghe Thạch Liêm giỏi Thiền học, chúa Ngãi đã có lần bảo Nguyên Thiều đến Trường Thọ Am thỉnh cho được Thiền sư Thạch Liêm. Lúc về, không có Ngài Thạch Liêm đi theo, Ngài Nguyên Thiều bị chúa Thái tỏ vẻ thất sủng.
Phải chăng, chúa Nguyễn Phúc Thái đã có ý muốn lập giới đàn truyền giới cho Tăng đồ ở Thuận Hóa?
- Điều thứ hai là vị Quốc sư có húy là Hưng Liên, hiệu là Quả Hoằng. Vị sư này là đệ tử của Thiền sư Thạch Liêm; vì sau khi về Trung Quốc, Ngài Thạch Liêm còn để lại một đệ tử có húy là Hưng Triệt; và chính chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) sau khi quy y với Thiền sư Thạch Liêm, cũng được đặt Pháp danh là Hưng Long. Nhưng, Ngài Hưng Liên đã qua Nam trước thầy mình rất lâu, đã lập thảo am ở vùng Ngũ Hành Sơn - Quảng Nam. Khi thuyền Ngài Thạch Liêm trở về Trung Quốc, đi ngang qua đấy Giám quan chỉ tay bảo rằng: “Đấy là núi Tam Thai, ngôi chùa trong ấy tức là đạo tràng của Quả Hoằng Quốc sư. Núi ấy có nhiều nham động như cửa ngõ, như cửa sổ, làm đường hang, làm nhà, làm phòng, như hình vung nồi, như hình chuồng câu v.v...thảy đều lung linh khoáng đãng; nằm ngồi được, ngồi gảy đàn, ngâm thơ được. Mỗi lúc nói lên có tiếng vang đáp lại....”
Ngài Quả Hoằng được Minh Vương phong làm Quốc sư? Và phong từ năm nào? Sau đó vì sao lại rước Thạch Liêm về Thiền Lâm? Bao nhiêu câu hỏi này, dường như không thể trả lời được, vì ta thiếu hết cứ liệu, không có sách vở nào chép lại. Chỉ biết Thiền sư Thạch Liêm về sau có ghé lại thăm đạo tràng này và dành đến ba trang sách để tả cảnh đẹp ở chùa Tam Thai; Quốc sư có sự sai lầm nhỏ là tiến cử người làm việc lên chúa Nguyễn Phúc Chu bất xứng nên chúa đã có ý trách Đại Sán Hán Ông. Do đó, có thư dàn xếp của Thạch Liêm gửi chúa Nguyễn để chúa và Quốc sư đừng mất lòng nhau.
- Điều thứ ba là chùa Thiền Lâm vốn là của Khắc Huyền Lão Tổ khai sơn, Lão Tổ viên tịch vào năm 1706. Thế mà Ngài Thạch Liêm sang, Quả Hoằng Quốc sư đưa về chùa Thiền Lâm; sau đó đại giới đàn cũng mở tại đây. Trong thời gian này, Khắc Huyền Lão Tổ đi đâu? Không có sách nào nói. Lúc này (1695), Khắc Huyền Lão Tổ đang còn, chính Hải ngoại kỷ sự của Đại Sán Hán Ông không hề có một chữ nhắc đến Lão Tổ là chùa sở tại mà Ngài đang ở? Với lại ở Thuận Hóa lúc đó đang có mặt nhiều Thiền Tổ nổi tiếng như các Ngài Giác Phong, Nguyên Thiều, Từ Lâm; có thể có cả các Ngài Minh Hoằng Tử Dung, Minh Hải Pháp Bảo... tại sao chúa Nguyễn không mời lập giới đàn, mà phải thỉnh cho được Ngài Thạch Liêm?
Hướng phát triển thứ nhất của Phật giáo Thuận Hóa dưới thời các chúa Nguyễn chính là Thiền sư Thạch Liêm với phái Thiền Tào Động. Trước hết chúng tôi xin nói ít hàng về Trường Thọ Am, nơi Thiền sư Thạch Liêm trú trì; sau đó nói tiếp tiểu sử và hành trạng của Ngài.
Theo sự sưu khảo của nhiều người đi trước, thì nguyên ở Quảng Châu có chùa Trường Thọ và ở Thanh Viễn có chùa Phi Lai. Hai chùa này đều do Thực Hành Hòa thượng trú trì. Khi Hòa thượng Thực Hành viên tịch, nhờ có người giới thiệu, Thạch Liêm giảng sư được vào làm tọa chủ Trường Thọ Am.
Trường Thọ Am tọa lạc cách phía Tây Nam thành Quảng Đông 5 dặm, từ khi Thạch Liêm giảng sư kế thế Hòa thượng Thực Hành để làm tọa chủ nơi đây thì càng ngày am càng trở thành hưng thịnh. Chùa có cảnh đẹp. Mé Tây có ao chảy thông với Châu Giang, nước khi đầy khi vơi ăn nhịp với nước lên nước ròng ở ngoài sông; phía Bắc có Bán Phàm Đình, phía Đông có Hội Không Hiên, trước hiên trăm hoa tươi tốt, cảnh trí đáng yêu; thẳng theo các bờ đều có trồng loại cây lệ-chi (cây vải) và long nhãn (cây nhãn); phía Nam có Hoài Cổ Lâu, phía dưới có Lục Ly Đường, cây nước trong xanh, phòng hiên u tịch. Chùa có tượng Thích Ca niêm hoa, thếp vàng ngọc mã não xa cừ, nghiêm trang rực rỡ, lại có tượng đồng, nghe nói đúc từ đời Đường
(1).
Xem thế thì ta thấy am Trường Thọ có cảnh đẹp thanh u biết dường nào. Người tu hành trong đó là Thiền sư Thạch Liêm hiệu là Đại Sán Hán Ông, người ta còn gọi là “Thạch Đầu Đà”. Sách Đại Nam liệt truyện chép: Ngài người “bác nhã khôi ngô, phàm các môn tinh tượng, luật lịch, diễn xạ, lý số, triện lệ (cách viết chữ), đơn thanh (vẽ) môn nào cũng thông hiểu, càng sở trường về thơ.” (TKH,Sđd. tr.243). Giáo sư Trần Kính Hòa dẫn sách Hoa di biến thái (q.32)chép lời báo cáo của người chủ thuyền Quảng Đông, chuyến 36, năm Ất Hợi (1695): “Nói tóm tắt, Thạch Liêm tuy sinh quán ở Nam Kinh, nhưng cư trú ở Quảng Đông hơn 20 năm, trong khoảng ấy đức hạnh của ông rất thịnh sáng, bởi thế quan dân xa gần quy y rất đông. Trong bọn thương khách thuyền chúng tôi cũng có người đã từng đến Trường Thọ Am lạy Phật.”
Vẫn ông Trần Kính Hòa đã viện dẫn thêm một “báo cáo” của Tàu buôn Quảng Đông, chuyến 67, nhổ neo từ Quảng Đông ngày 16-6 Khang Hy thứ 35 (Bính Tý 1696) chạy đến Trường Kỳ - Nhật Bản vào ngày 13-7 năm ấy nói thêm rằng:
“Nói về Thạch Liêm Thiền sư, cư trú Trường Thọ Am Quảng Đông, vì nổi tiếng đạo đức, nên mùa xuân năm ngoái Quảng Nam Quốc Vương rước đến Quảng Nam. Nghe đồn sau khi Thạch Liêm đến nước ấy rất được Quốc Vương tôn kính, hơn nữa, quan dân trong nước đều nhất trí quy y; tại Quảng Đông cũng thường được nghe tin tức. Nhưng Thạch Liêm từ mùa xuân năm ngoái ở luôn tại Quảng Nam, cho nên tín đồ Phật giáo tỉnh Quảng Đông, những người đã quy y với Thiền sư ấy, từ mùa xuân năm nay hằng phái thuyền đến Quảng Nam tiếp đón; chắc chẳng bao lâu nữa cũng sắp sửa trở về.”
Theo chính sử, cho biết Thiền sư Thạch Liêm hiệu Đại Sán – Hán Ông, người tỉnh Chiết Giang nhà Thanh. Ngoài hiệu Đại Sán tục thường gọi : “Thạch Đầu đà”. Về quê quán thì theo bài tựa của Tăng Sán trong cuốn Ly Lục Đường tập là tập sách riêng của ngài Đại Sán có chép: “Thiền sư người Cửu Giang đồng làng với tôi”, cũng trong tập ấy bài tựa của Đào Huyên chép: “tôi nghe nói Thiền sư nguyên quán ở Giang Hữu và đến Quảng Châu thuyết pháp ...” Ngoài ra có chỗ hoặc bảo ông người Ngô, hoặc Giang Nam, Tri Châu, Tô Châu, Nam Kinh ... Theo Tăng Sán thì quyết định ngài thuộc tỉnh Chiết Tây. Và ngài Đại Sán vào những năm về già bị bắt giải về nguyên quán.
Theo Đại Nam Liệt truyện Tiền biên chép rằng: ngài là người “bác nhã khôi ngô, phàm các môn tinh tượng, luật dịch, diễm xạ, lý số, triện lệ, đơn thanh (vẽ), môn nào cũng thông hiểu, càng sở trường về thơ. Ý này là do lấy trong bài tựa của Mao Tế Khả đề cho “Ly Lục Đường tập”.
Cuối đời nhà Minh, người Thanh làm chủ Trung Quốc, Thạch Liêm giữ nghĩa chẳng chịu làm tôi, bèn từ giã mẹ già, xuất gia đầu Phật, chống gậy vân du, phàm những danh thắng sơn xuyên, dấu chân hầu khắp.
Theo Mao Đoan Sĩ đề tựa cho “Hải Ngoại Kỷ Sự” cũng có chép: Thiền sư Hán Ông sinh ra đã kỳ dị, từ trẻ theo đạo Phật, rộng xem các kinh luận ngũ minh và âm dương toán số thấu rõ cát hung, thường châu du thiên hạ, tiếng tăm dậy khắp trong ngoài.
Tóm tắt, theo Hoa Di Biến Thái (quyển 32): Thạch Liêm tuy sinh quán tại Nam Kinh, nhưng cư trú Quảng Đông hơn 20 năm, trong khoảng thời gian đức hạnh của ông rất thịnh sáng; bởi thế quan dân xa gần quy y rất đông. Trong bọn thương khách thuyền chúng tôi cũng có người đã từng đến Trường Thọ Am lạy Phật.
Theo sự ghi chép của A. W. Hummel trong “Thanh Đại Danh Nhân liệt truyện” ở mục Ngô Ỹ có nói đến sự tích Đại Sán (1633-1702); theo bài của Mậu Thị, năm Thuận Trị Mậu Tý (1648) lúc Giác Lãng thiền sư tạ thế, Thạch Liêm mới 16 tuổi, thì năm sinh của Đại Sán là 1633 là chính xác; nhưng năm mất 1702 thì chưa có căn cứ rõ ràng.
Xét theo Phân Cam Dư Thoại thì Hứa Tự Hưng nhậm làm quan án sát tại Quảng Đông năm Khang Hy 41 (1702), tại nhiệm 2 năm, đến năm Khang Hy 43 (1704) thăng Hà Nam Bố chánh sứ. Còn Lý Cơ Hoà do Hồ Bắc Bố chánh sứ thăng Giang Tây Tuần vũ năm Khang Hy 43 (1704).
Đại Sán bị Hứa Tự Hưng vì ganh ghét do sự gièm pha nên đã bắt tra xét, đuổi lên Cống Châu chừng một năm; nhân đó “phục hưng trở lại, tín đồ quy y rất đông”; nhưng đến năm Khang Hy 43 (1704) lại bị Giang Tây Tuần vũ Lý Cơ Hoà cũng do vì ganh gét vu oan nên đã bắt ngài áp giải về nguyên quán, nửa đường chết ở Thường Sơn. Và vì vậy, năm sinh 1633, năm mất 1704 là có căn cứ hơn.
Tác phẩm của Ngài Thạch Liêm hiện có: Hải Ngoại Kỷ Sự, Ly Lục Đường Tập, và Kim Cương Trực Sớ.
Đệ tử của ngài, mà chúng ta còn biết được là: Thiền sư Hưng Liên – Quả Hoằng, Quốc sư thời Nguyễn Phúc Chu. Cư sĩ Hưng Long – Nguyễn Phúc Chu, tức chúa Minh Vương. Thiều Dương Hầu và Thiền sư Hưng Triệt, Giám sinh Hoàng Thiên.

Thiền sư Khắc Huyền (? - 1706) - Chùa Thiền Lâm - Huế

Thứ năm - 22/09/2011 21:06
Thiền sư Khắc Huyền (? - 1706)  - Chùa Thiền Lâm - Huế

Thiền sư Khắc Huyền (? - 1706) - Chùa Thiền Lâm - Huế

Thiền sư Khắc Huyền cũng như Thiền sư Giác Phong, đều là những Thiền sư trong phái Tào Động. May mắn, Ngài Khắc Huyền có bia tháp cổ, khắc năm Chính Hòa thứ 27 (1706) với dòng chữ:敕賜洞上正宗開山禪林院克玄老祖之塔" Sắc tứ Động Thượng chính tông khai sơn Thiền Lâm viện, Khắc Huyền Lão Tổ chi tháp".
Trong chùa Thiền Lâm hiện nay, còn có một bài vị khắc:曹 洞 正 宗 開 山 禪 林 寺 諱 如 資上克下玄大老和尚之覺靈" Tào Động chánh tông khai sơn Thiền Lâm Tự húy Như Tư thượng Khắc hạ Huyền Đại lão Hòa thượng chi giác linh". Đất Thiền Lâm ngày xưa, vào đời các chúa, từ Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) kéo dài cho đến đời Tây Sơn (1777-1801), còn rất rộng; theo địa hình hiện tại là từ trước chùa Từ Đàm, kéo theo đường Nam Giao cựu lộ và qua cả mấy vùng từ chùa Vạn Phước kéo lên cho tận đàn Nam Giao. Trong “Hải Ngoại Kỷ Sự” viết năm 1695, Hòa thượng Thạch Liêm tả cảnh chùa Thiền Lâm như sau: “Đi quanh hai ba lớp núi, nghe trong rừng tre có tiếng trống chuông; Quốc sư rước vào ngồi trong một ngôi đền...”; “nhà ở tối tăm chật hẹp; chẳng đủ chỗ chứa mười người, ban trưa còn thắp đuốc. Ra cửa toàn người lạ. Đầu xuân đã nóng nực...”. “Mỗi lúc vấn đáp, thông ngôn phiên dịch thường hay sai lầm [....] Hỏi: Nhà ở được yên chăng? - Trả lời: Chật hẹp, tối tăm, không được khoan khoái(1). Qua lời thơ của năm bài thơ tức sự cảnh chùa Thiền Lâm, chúng ta còn biết thêm “chùa dựng đầu cầu cao chất ngất” thì rõ ràng là phải qua cầu Bến Ngự đi lên, mà đi “xuyên ngang gò núi một đường thông”, xung quanh nhìn ra toàn núi xanh kéo dài một dải; nhìn gần thì mồ mả khắp nơi; trong cảnh man mác ấy thì “lối tiều quanh núi khi mờ tỏ, lều cỏ ven đồi khoảng hở liền” đã vẽ được cảnh quan chùa Thiền Lâm ở thế kỷ thứ XVIII. Đường vào chùa nhiều cây mít, cây dừa. Quanh chùa có tre trồng rào cả bốn phía, vườn chùa khoảng nửa mẫu có trồng rau. “Phương trượng ba gian lớp bạch mao”. Trong điện Phật đã có tượng, chuông trống. Và chắc chắn là lễ đón Thiền sư Thạch Liêm đã có cử chuông trống Bát-nhã mà cho đến nay các chùa Huế vẫn còn giữ truyền thống ấy.
Chùa Thiền Lâm do Ngài Khắc Huyền khai sơn để hoằng truyền phái Tào Động, lúc này đã có Quả Hoằng Quốc sư kiêm nhiệm. Bia tháp Tổ Khắc Huyền đề “Khai sơn Thiền Lâm viện” vì vào năm 1695, chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) và Hòa thượng Thạch Liêm khai đại giới đàn Thuận Hóa ở đây; và từ năm đó về sau chùa Thiền Lâm trở thành một thiền viện lớn, có lẽ cho đến thời Cảnh Thịnh, Bùi Đắc Tuyên chiếm đã phá đi. Tổ Khắc Huyền viên tịch năm 1706 là lúc đang thịnh thời của Thiền Lâm Thiền viện.


(1) Đại Sán Hán Ông, Hải Ngoại Kỷ Sự, trg.35-36, 41; Huế, 1963.


(1) Trần Kính Hòa, phần khảo cứu Hải Ngoại Kỷ Sự tr.247-248. Đại học Huế xb, 1963.

Nguồn tin: Chư tôn Thiền đức & Cư sĩ hữu công Phật giáo Thuận Hóa

DSC02189DSC02303IMG_5222

http://lytuonglam.com/home/vi/news/Tho/Thien-su-Thach-Liem-1633-1704-Chua-Thien-Lam-Hue-228/

Copyright © NhocLak.Com .