Tặng những ai yêu Đà Lạt, và…

Thành phố sương mù, mưa mùa chớm thu, trời mây xanh nhạt màu, ôi buồn sao…

Tiếng hát Như Quỳnh rót nhẹ vào chiều mưa niềm chớm buồn thinh lặng. Trời Đà Lạt trong mưa u uẩn.


Vậy là sắp bốn năm? Ta cũng chỉ là một kẻ như bao kẻ đến đây rồi đi.

Ta biết chứ, rằng người không ở lại
Phận mây trời mấy thuở ngự một phương
Chiều nắng tắt đồi thông vàng tê dại
Mắt ngoái nhìn lam nhạt một trời thương.

Bốn năm trước mới lên, mỗi chiều nhớ nhà, ta cùng mấy huynh đệ đứng trên đồi cao mà nhìn về phía đó. Không phải là Thôi Hiệu hay Huy Cận với một dòng sông xuôi dài có – không khói sóng để hoài hương, nhưng làn khói từ những vườn rau đốt cỏ vươn cao và tan mất trong khí lạnh lập đông cũng khiến kẻ mới nhập cư thấy chạnh niềm cố quận.

Đôi khi thấy ghen tị với người dân nơi này. Ghen tị với cái hạnh phúc được đón xuân trong tiết trời se lạnh, màu mai anh đào phớt hồng, có lúc mù sương bay lãng đãng; ghen tị với chiều đông giá lạnh ngắm vạt dã quỳ vàng lên sắc nắng và đồi thông xanh biếc bóng hoàng hôn; ghen tị với từng đêm trên cao nhìn xuống lớp lớp nhà kính sáng lung linh dưới vầng trăng sơ huyền đang lên từ dãy núi. Nhưng nghĩ lại thấy cũng…ngộ! Ta ghen tị với những người nơi đây vì cái hạnh phúc được sống tại Thành phố hoa, nhưng biết đâu những người đó lại chẳng xem sống nơi đây là vui sướng? Và lỡ như họ đến nơi ta sống, họ sẽ ước rằng được sống nơi đó, chứ cái thành phố hoa gì gì này…thật chán chết! Buồn cười thay, hạnh phúc.

Người ta bảo mảnh đất này là mảnh đất sĩ phu vì nơi đây biết bao con người trí thức, nghệ sĩ, chí sĩ… từng sống, từng chết, từng đến, từng đi và vẫn còn sống, còn chết, còn đến, còn đi… Những con người đó cũng yêu Đà thành bằng tình yêu sâu thẳm. Họ đã cười đã khóc với mảnh đất này bằng lời ca tiếng hát, bằng câu thơ trang văn, bằng cả sự im lặng tái tê trước thời cuộc. Nghe nói Ấn Độ xưa cũng có Thành phố hoa, Pataliputa ( The City of Flower – Hoa Thị Thành). Chẳng rõ thành phố đó vì sao mà mang cái tên đẹp như vậy và bây giờ còn tồn tại hay đã trở thành ký ức đẹp chốn Phật sinh. Nếu dịch tên thành phố này ra tiếng Anh thì cũng là The City of Flower, và người nước ngoài cũng sẽ hỏi như ta vừa hỏi: Không biết sao thành phố này mang tên đẹp như vậy và nó có còn là hiện thực hay trở thành ký ức đẹp của đất nước Việt Nam. Duy có điều: Người hỏi đang tần ngần đứng ngay trên thành phố, trước cái bảng Thành phố hoa! Có Ông giáo già tuổi đã ngoài cổ lai hy, một con người Đà Lạt thực thụ, là chứng nhân cho thăng trầm biến động lịch sử xứ sương mù qua bao năm tháng, đã trầm ngâm khi nói đến nơi mình ký gửi cuộc đời: Thôi! Hãy để ngày đó lụi tàn…


…Tôi hay lang thang đường phố nhỏ quán đìu hiu một người đêm đêm tìm về, một người bỏ quên thành phố. Từ thuở xa người, mấy mùa lá rơi. Người đi xa thật rồi xa tầm với. Nên đêm thâu đêm nằm nhắc chuyện cũ ngày xưa, để nghe cay tìm mắt, để nhớ thương nghẹn ngào…

Không biết tác giả nào viết nên những câu hát này, viết lúc nào, trong hoàn cảnh như thế nào, mà sao mỗi khi lắng lòng ta như cảm nghe từng bước chân gõ nhịp trong đêm vắng giữa phố xá ngủ yên, cảm nghe làn mưa thoát nhẹ từ trời cao chao bay lất phất bầu không, cảm nghe lá rơi có dội ở trong sương mù… (Bùi Giáng). Nhớ đêm hai lăm tết năm nào, cùng anh bạn đi lang thang đường phố nhỏ quán quán đìu hiu, hơn mười giờ khuya về, nhà nhà đều đóng cửa im lìm chìm sâu giấc ngủ, mới hiểu cảm giác của tác giả bài hát. Và rồi hai người đi xem chợ hoa. Chủ nhân đã nghỉ nhưng vẫn niềm nở mời khách ngắm hoa. Nào đào, mai, quất, thăng long,… được bày hàng xếp lớp, chuẩn bị chờ người tới rước về tư gia. Ta chẳng có tư gia, bốn biển là nhà thì cần chi phải mua ở đâu để đem về đâu; hoa chỗ nào cũng ngắm được, ngửi được chẳng ai bắt lỗi vậy việc gì cứ của ta mới thưởng thức?! Có một người con gái cứ gần tết là vào rừng chặt đào về chưng. Gọi điện cho ta líu lo kể về đào hồng nở núi xanh khiến kẻ dưới núi thấy…tưng tức. Kể ra “dân miền lạnh” có những thú vui thật khiến người ta ngưỡng mộ.


Hình như chỉ ở thời của ta mới có những sáng, những chiều, những khuya bất chợt nhận một tin nhắn hay cuộc điện thoại bảo ra ngoài trời xem…sương phủ! Vì lẽ thời của các vị đi trước sương mù hiển nhiên như ngày lên đêm xuống, họ có ngạc nhiên là trường hợp không thấy sương thôi; còn thời của hậu bối, sương mù trở thành một lí thuyết vật lí khó được thực tế xác chứng, lỡ như một buổi sương về chắc chẳng phải vài người rầm rì cảm thán mà cả thành phố xôn xao! Chẳng lẽ mai này ta cũng ngồi mà buông câu cảm hoài như Ông giáo già độ nọ: Thôi! Hãy để ngày đó lụi tàn… Nói vậy thôi, ta tin Đà thành vẫn giữ được những nét kiều diễm riêng nàng sở hữu, những món đặc sản mà muốn thưởng thức người ta phải thân hành tận nơi để tỏ rõ lòng thành mới mong mỹ nhân ân huệ tặng trao, chứ chẳng thể đợi kẻ trên này mua bằng dăm ba đồng rồi về hớn hở bảo rằng chỉ Đà Lạt mới có. Thời buổi này chắc hiếm còn gì gọi là đặc sản làm cho người ta thú vị. Giao thông phát triển, kỹ thuật tiến bộ thì đâu nhất thiết phải lên Đà Lạt mới có dâu tây, ra Quảng Ngãi mới có mạch nha, đường phổi… Vậy, cái đặc sản khó thể sớt chia của từng vùng chắc là khí hậu, phong thổ, con người, văn hóa? Cho nên, lỡ như có ai đòi quà cao nguyên, chỉ có thể gửi họ chiếc vé xe lên tận nơi mà thôi! Tuy nhiên, không khéo bây giờ tới đây, khi trở về người ta lại mang tâm trạng của Tô Đông Pha lúc giã từ Lô sơn: Đáo đắc hoàn lai vô biệt sự theo nghĩa đen chứ chẳng phải ẩn dụ hoán dụ chi hết. Như vậy, làm sao để hận bình sinh có thể tiêu khi chân đang đặt tại nơi hằng mơ ước? Cũng không biết nữa, mỗi người một cách cảm nhận, tuy không tinh tế đến mức thấy cánh bướm vỗ bên này trái đất mà nghe ra bão tố trời phía kia như một nhà khoa học nào đó, nhưng ít gì người ta phải biết ướt bởi hạt sương lạnh vì sợi gió thì ngõ hồn mới có thể rộng mở mà đón nhận ngọc ngà băng tuyết của đất trời chan chứa. Bằng không, có lên mà chẳng tới, có hội mà chẳng ngộ, có đi quanh mà chẳng gặp được điều bao năm tìm kiếm.

Chúng bạn ta, khi ngồi nói về Đà Lạt là lại nghe những tiếng xuýt xoa, đôi câu cảm thán. Có lẽ họ cũng như ta, đã trót lạc mất mảnh hồn trong mắt huyền thiếu nữ. Bởi thế khi ra đi lòng còn vướng bận mối duyên tình với mây bay Phố núi. Đôi kẻ muốn ở lại mượn cô tịch làm tri kỷ mưu toan xuất thế mặc nhân; có kẻ muốn ở lại hầu mong địa linh nhân kiệt đất này vun bồi nguyện cao chí lớn; có người phiêu bồng lãng đãng hơn, ở lại làm du tử cô vân; hoặc có người muốn ở lại chỉ đơn giản vì thích khí hậu, cuộc sống êm đềm; và những kẻ quyết ra đi (hay bị!) nhưng luôn mong ngày về uống chung trà khói ấm với đệ huynh trong ngây ngây khí lạnh của cõi miền bốn năm gắn bó. Ta biết một điều: không như câu thơ Chế Lan Viên mà mọi người hay cảm thán, ta và bạn ta đã hóa đất thành tâm hồn ngay từ khi còn sống chốn này chứ chẳng phải đợi lúc ra đi. Có chăng là một niềm u tình li biệt mà thôi.

Mây vẫn bay trên vùng thương nhớ. Mưa vẫn rơi trên thành phố quạnh hiu. Em ra đi thành phố xa đất lạ, quên một người quên cả lối trăng sao…

Bài hát dàn trải theo không – thời gian chập choạng. Ai ra đi? Ai ở lại? Đi đâu? Về đâu? - Không biết. Đi lúc nào? Về khi nào? Đi để làm gì? - Chẳng rõ. Chỉ thấy mây bay Phố núi, sương phủ đường khuya, mưa mù thu sớm. Mà những điều ấy cũng mịt mùng, lãng đãng, hư ảo, chập choạng… biết dường nào. Cũng phải. Trước khi người Pháp phát hiện ra đất Đà Lạt để giới thiệu cho mọi người, thì đồi núi, sương mây, cây cỏ đã chứng kiến biết bao cuộc ra đi trở về, chia biệt hội ngộ của những đồng bào bản xứ; rồi từ đó đến nay và đến mai sau sẽ còn chứng kiến không biết bao nhiêu lần như vậy nữa. Làm sao thấy hết, biết hết, nhớ hết, quên hết, tính hết, đếm hết, khóc hết, cười hết,…? Những con người nổi tiếng thì còn lưu lại chút gì để người đời biết rằng mình từng ở, từng đi, từng đến (nhưng được bao lâu?); còn vô vàn những người bình thường đến đi thầm lặng chẳng một âm vọng thì có gì ghi dấu, có gì làm tín vật? Nhưng chung cuộc ai cũng một định mệnh. Thế mới hiểu:

Phong trần đến cả sơn khê
Tang thương đến cả hoa kia cỏ này.
(Cung oán ngâm khúc)

Mây vẫn bay và mưa vẫn rơi. Chẳng có gì thay đổi. Chỉ có…

Nỗi đau vô thường ngàn triệu năm vẫn làm người ta buốt tái. Viết những dòng này, ta cảm nỗi đau ấy đến xương tủy. Đọc những dòng này, người đọc dù một thoáng chốc vẫn ngấm ngẩm về sự thật xót xa này. Vô thường đến cả sơn khê; bể dâu đến cả hoa kia cỏ này!!!

Ta chẳng muốn kết thúc bài viết bằng những lời tịch muộn. Cuộc sống là tất cả và cần tất cả. Đà Lạt là tất cả và cần tất cả. Tuy nhiên, để kết thúc, để biệt li, phải có một dấu câu. Dù là dấu chấm, dấu hỏi, dấu than, dấu ba chấm... Và tùy mỗi người tự đặt lấy vậy!

Rồi có đêm nào, mưa về nhớ nhau, đọc thư xanh ngày nào thêm buồn đau. Đêm nay qua con đường xưa lạnh buốt bờ vai. Đường khuya ta một bóng giữa Thành phố sương mù…



Trầm Nhất Liễu

(nguồn Chùa BMGL)




Nguyễn Thế Đăng


Ở đời ai mà chẳng muốn sống an vui. Và đạo Phật là nghệ thuật để sống an vui. Dĩ nhiên, an vui có nhiều cấp độ, từ bậc thấp, bậc trung đến bậc cao. An vui cao tột là an vui không còn bị hoàn cảnh làm cho giảm sút hư hoại.

Đời sống an vui đó đặt nền trên những nguyên lý đã được đạo Phật khám phá, đã trải nghiệm suốt 2600 năm nay. Người nào biết sử dụng, ứng dụng những nguyên lý ấy vào cuộc sống của mình thì được an vui hạnh phúc. Và tùy theo mức độ sử dụng, ứng dụng nhiều hay ít, tinh tế hay thô sơ mà con người có mức độ an vui nhiều hay ít, tinh tế hay thô sơ.

1. Xây dựng cuộc đời mình trên định luật nhân quả

Chúng ta thấy, từ lúc sinh ra, con người đã không bình đẳng về thân thể, trí óc, gia đình, hoàn cảnh xã hội… Ngay cả anh em cùng một cha mẹ, hoàn cảnh sống như nhau, cuộc đời họ cũng khác biệt nhau rất nhiều, từ khuynh hướng đến khả năng, may mắn, thọ yểu… Đó là sự khác biệt của rất nhiều nhân đã tạo ở những kiếp trước.

Nếu không dựa vào định luật nhân quả nghiệp báo thì với tất cả mọi khoa học của con người đều không thể giải thích một cách hợp lý tại sao có sự bất bình đẳng ngay từ khi mới sinh ra như vậy.

- Nếu cho là có một Thượng đế sinh ra con người, thì Thượng đế ấy không công bằng khi sinh ra người này nhiều thuận lợi hơn người kia.

- Nếu cho là mọi sự đều ngẫu nhiên, thì cõi người phải hỗn loạn. Khi không có một trật tự nào từ một định luật chung nào thì mọi sự đều có thể làm. Sự tự do căn cứ trên ngẫu nhiên là một lối sống hư vô chủ nghĩa.

Như thế, phải có định luật nhân quả mới có thể thiết lập được thế giới con người.

Sống theo định luật nhân quả, không gây nhân xấu, không làm những việc xấu là đã thấy bớt lo sợ, thế là đã có phần nào không sợ hãi (vô bố úy), như vậy là đã hạnh phúc rồi.
Định luật nhân quả cho phép con người tự do: tự do xây dựng đời mình, gây nhân tốt thì có quả tốt, gây nhân xấu thì có quả xấu. Chẳng có cái gì hay người nào khác có thể ngăn cản tiến trình nhân quả ấy được. Con người chỉ có thể sửa đổi hệ thống nhân quả của mình trên chính định luật nhân quả chứ không thể ‘an gian’ nó được.

Mọi phẩm tính của con người có được, từ sự gieo hạt, nuôi trồng, chăm bón, đều đặt trên định luật nhân quả. Tôn trọng định luật nghĩa là tôi tự trọng, tôi tự biết thương mình, tôi không tự phá hoại làm hư hỏng đời mình.

Trái lại, tôi xem cuộc đời tôi là một cơ hội độc nhất (vì dù có kiếp sau đi nữa, nó cũng không lặp lại hoàn cảnh bây giờ) để tôi chọn lựa nhân quả, tôi chọn lựa cuộc đời tôi.

Tôi tự do, nghĩa là tôi không trách cứ, đổ lỗi cho ai cả (trách cứ người nào hay hoàn cảnh nào chỉ là một cách lệ thuộc người đó hay hoàn cảnh đó).

Tôi bình đẳng, vì bất cứ ai cũng bình đẳng với tôi trong định luật nhân quả.

Tôi hạnh phúc vì không có gì có thể đụng chạm đến việc gieo nhân tốt của tôi, nghĩa là không gì phá hoại được việc tự xây dựng hạnh phúc của tôi.

Tôi không đố kỵ với người hạnh phúc hơn tôi, tôi biết đó là do nhân trước kia của họ: nếu muốn hạnh phúc như họ thì tôi cứ tạo nhân hạnh phúc nhiều hơn.

Tôi khoan dung vì tôi biết những lỗi lầm, những thất bại, những khổ sở của người khác sở dĩ có trong hiện tại chỉ vì họ không biết và không sống theo định luật nhân quả.

Mỗi ngày là cơ hội để gieo trồng và thọ hưởng hạnh phúc cho chính ta và người khác. Tôi không lo sợ mà thanh thản lạc quan. Tôi không phải giấu diếm điều gì, vì chẳng có ai có thể giấu mình trước sự vận hành của định luật nhân quả.

Ngay cả cái đúng, cái sai của cuộc đời đều do nhân quả mà suy xét, thiết định. Đúng là lợi, là tốt. Sai là hại, là xấu. Nhận thức luận (đúng, sai) là một với đạo đức học (tốt, xấu) và là một với kinh tế học (lợi, hại). Nói rộng ra, tất cả mọi ngành học thuật để tạo ra thế giới văn minh của con người đều liên thông nhau nhờ định luật nhân quả.

Không thể hiểu biết hết và nói hết về định luật nhân quả. Mỗi người chúng ta phải nghe, tư duy, thực hành nhân quả để hiểu biết và xây dựng cuộc đời chúng ta để được hạnh phúc như ý muốn.

Khi hiểu rõ định luật nhân quả vận hành như thế nào, chúng ta cũng biết cách thoát khỏi sự vận hành của định luật nhân quả. Đó là tự do của giải thoát và giác ngộ.

2. Sống trong một hạnh phúc mở rộng

Nhân quả không chỉ để phòng thủ cho cuộc đời cá nhân, tránh cái sai cái xấu, làm cái đúng cái tốt cho riêng mình. Ý thức về nhân quả phải còn được mở rộng ra đến xã hội. Gây nhân tốt quả tốt cho người khác, cho xã hội được gọi là gây tạo phước đức.

Cuộc đời chúng ta càng có nhiều điều tốt lành thì chúng ta càng có nhiều điều hạnh phúc. Điều tốt lành có được nhiều hơn khi chúng ta mở rộng điều tốt lành cho những người khác. Làm từ thiện, giúp đỡ những người khác, tạo tượng những bậc giác ngộ để nâng cao tâm hồn người ta, rải tâm từ bi ra chung quanh… cho đến xử án đúng pháp luật, mua bán với giá cả hợp lý, bớt nói dối, không say xưa… Mọi hành động đúng và tốt đẹp làm cho người khác đều được gọi là phước đức.

Xã hội là môi trường và cơ hội để chúng ta có thể mở rộng phước đức, nghĩa là mở rộng hạnh phúc của mình. Nếu làm cho một người vui thì chúng ta có một hạnh phúc, làm cho nhiều người vui thì chúng ta có nhiều hạnh phúc. Cho đến ngày nào, làm cho tất cả mọi người an vui thì chúng ta có tất cả hạnh phúc.

Điều lành hay phước đức cũng không thể không nói hết vì nó nằm trong mọi hành động cử chỉ của con người. Chỉ biết rằng mỗi ngày mỗi tạo điều lành, mỗi tạo phước đức thì đó là một ngày hạnh phúc. Điều lành ấy, phước đức ấy càng sâu càng rộng thì hạnh phúc càng sâu càng rộng. Cho đến lúc cả thể giới này đều biến thành hạnh phúc thì còn có sự an vui nào hơn?

3. Tìm đến và sống trong cội nguồn hạnh phúc của đời sống

Bình thường chúng ta chỉ sống ở mặt bên ngoài của đời sống, chúng ta chỉ tiếp xúc với đời sống bằng giác quan và một phần ý thức. Không thể sống sâu rộng hơn nên chúng ta mau chán và không thỏa mãn.

Người ta có thể đi đến tận bản chất hay cội nguồn của đời sống, nghĩa là bản chất của thế giới, của người khác và của chính chúng ta. Cái cội nguồn hay bản chất của mọi hiện hữu được kinh điển gọi là “thật tướng của tất cả các pháp”. Đạo Phật là những con đường, những pháp môn, giúp cho mỗi người tìm đến và kinh nghiệm cái bản chất thật sự của mọi hiện hữu, do đó chúng ta có thể hưởng thụ được những mặt rộng và những chiều sâu vô cùng của đời sống, của hiện hữu.

Chúng ta hay dùng từ “bản tâm”, tức là cái tâm căn bản, cội nguồn, nguyên thủy. Nói cách khác, đó là cái cội nguồn của tâm thức hiện giờ đang hoạt động của chúng ta. Không biết cội nguồn của tâm, chúng ta không biết mình là cái gì, sống làm sao cho trọn vẹn, chết về đâu, và cuộc sống chúng ta cứ trôi dạt theo mọi hoàn cảnh bên ngoài. Đó là sự khổ đau căn bản.

Bản chất của mọi hiện hữu, gồm cả tâm thức chúng ta, theo Kinh Đại Bát Niết-Bàn, được gọi là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Nói theo ngôn ngữ đời thường, đó là hạnh phúc tối hậu, hạnh phúc không tùy thuộc vào nhân duyên. Điều quan trọng nhất của đời người là Phật tánh thường, lạc, ngã, tịnh luôn luôn hiện hữu nơi chúng ta dù chúng ta có biết hay không: “Tất cả chúng sinh đều có Phật tính”.

Cuộc sống là để tiến hóa, để tự hoàn thiện. Tiến hóa đến cái hạnh phúc tối hậu, tự hoàn thiện để trở thành hạnh phúc tối hậu ấy. Đây là mục đích của cuộc đời, vì có loài nào lại không đi tìm hạnh phúc, một hạnh phúc sâu và rộng không cùng?

Dĩ nhiên khó có thể đạt đến hạnh phúc cao tột, tối hậu ấy trong chỉ vài năm hay thậm chí chỉ một đời. Dù rằng trong thực tế và nếu cố gắng, ai ai trong chúng ta cũng có thể mỗi ngày mỗi đi đến gần hơn, nhận diện rõ ràng hơn cái gì là khuôn mặt thật xưa nay của mình. Mỗi ngày chúng ta đều có thể thấm nhuần thêm một ít cái vị cam lồ của sự sống bất tử ấy.

Mỗi ngày là một cơ hội, một hoàn cảnh để chúng ta kết nối với cái cội nguồn, cái nền tảng của mọi hoàn cảnh sinh hoạt ấy. Mỗi ngày chúng tađều có thể kết nối với hạnh phúc tối hậu, vốn ở sẵn trong đáy sâu của thân tâm mình. Đó là chúng ta biết sống với hạnh phúc đích thực. Cuộc sống để thực hiện mục tiêu đích thực ấy là một cuộc đời hạnh phúc, vì con đường của nó, nói theo kinh điển, là: “tốt đẹp ở lúc bắt đầu, tốt đẹp ở chặng giữa, và tốt đẹp ở lúc cuối cùng”.

Ba điều trên là ba cột trụ cho một cuộc đời an vui. Sống theo định luật nhân quả là một lối sống đúng, chánh, và cuộc sống chánh đúng đem lại hạnh phúc. Cuộc sống đó cần được mở rộng ra đến người khác và thế giới, do đó, hạnh phúc sẽ được rộng lớn hơn. Cuối cùng, cuộc sống ấy cần dựa trên sự thâm nhập thực tại, cũng là hạnh phúc tối hậu, để hạnh phúc càng được sâu xa và bao la hơn.

Ba điều ấy bổ túc lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhau, nâng cấp lẫn nhau, đem lại cho cuộc sống chất vị thật sự của đời sống là hạnh phúc. Không có nhân quả, cuộc sống sẽ gập ghềnh, bị nhận lãnh thay vì được nhận lãnh. Không có phước đức, làm lợi lạc cho người khác, tâm sẽ không mở rộng tỏa khắp, và hạnh phúc bị giới hạn trong một cá nhân nhỏ hẹp. Quan trọng nhất là cái thứ ba, không hiểu và sống được bản chất của đời sống, thì cuộc sống chỉ toàn là khó khăn, trở ngại, đối nghịch, phân mảnh, chia biệt.

Khi đạt đến bản chất tối hậu của đời sống là hạnh phúc, cả hai cái trên, nhân quả và lợi người, đều được nâng lên thành hạnh phúc tối hậu. Nhân quả là hạnh phúc vì nhân quả là sự biểu lộ của hạnh phúc tối hậu. Vũ trụ là sự biểu lộ của nhân quả, do đó, vũ trụ là niềm vui. Lợi người không còn là bổn phận, sự hy sinh khó nhọc, mà lợi người là hạnh phúc vì nó biểu lộ hoạt động hạnh phúc của tự thân hạnh phúc.

Người khuyết tật dìu nhau vào đời


Thiếu tự tin, không có nghề nghiệp là nguyên nhân khiến người khuyết tật khó hòa nhập vào cuộc sống. Trung tâm khuyết tật và phát triển DRD công bố dự án nhằm giúp 300 người tàn tật tại TP HCM có công ăn việc làm.
> ‘Đời rất đẹp’ của người khuyết tật’

Khởi động từ cuối tháng 2 và kéo dài trong 3 năm, dự án “Nâng cao năng lực người khuyết tật” đã thu hút được khoảng 200 thành viên chung tay tham gia.

Ngoài cố gắng tự thân, người khuyết tật luôn cần sự giúp đỡ từ cộng đồng. Ảnh:Thiên Chương

Bà Võ Thị Hoàng Yến, chủ nhiệm trung tâm người khuyết tật DRD (Đời Rất Đẹp)cũng là người khuyết tật, tham gia trong nhóm đồng hành với dự án gồm những người khuyết tật và các mạnh thường quân trong vai trò cố vấn. “Chính họ chia sẻ với những người có cùng cảnh ngộ còn thiếu tự tin những kinh nghiệm sống và cách hòa nhập vào cộng đồng”, bà Yến nói.

Bên cạnh việc động viên tinh thần, phát triển kỹ năng xã hội, dự án còn giúp người khuyết tật nâng cao trình độ văn hóa, học nghề và tìm việc làm thông qua các chủ doanh nghiệp, những người đồng hành cùng dự án.

Cùng tham gia nhóm đồng hành, ngoài những người trong ban điều hành, là hàng trăm bạn khuyết tật được coi là những người đi trước, đang đi học hoặc đã có công việc ổn định.

Hoàng Văn Dũng, 24 tuổi, nhà ở quận 9, liệt cả hai chân. Anh cho biết từng thiếu tự tin vì bản thân tàn tật, rồi được các anh chị trong nhóm DRD dìu dắt để trở nên bản lĩnh hơn.

“Cách đây 4 năm, em nhút nhát lắm vậy mà nhờ cô Yến và các bạn DRD, giờ em đã dạn dĩ hơn. Hy vọng khi dự án khởi động, em sẽ giúp được nhiều người có số phận như mình trở thành những người có ích cho xã hội”, Dũng nói. Hiện Dũng là sinh viên năm cuối trường Cao đẳng kỹ thuật công nghệ TP HCM.

Bà Trương Thị Thanh Thanh, Phó chủ tịch hôi đồng quản trị FPT – một trong những người cùng đồng hành với dự án. Ảnh: Thiên Chương

Cùng với Dũng, Lê Minh Duy nhà ở Bà Rịa – Vũng Tàu, 25 tuổi, bị liệt cả 2 chân, cùng xuất thân từ DRD, cũng đang sẵn sàng để tiếp cận và hướng dẫn những người khuyết tật khác.

Kể về bản thân, Duy cho biết, dù phải ngồi xe lăn nhưng Duy hiện là lao động chính trong gia đình 4 người. Khi đang là sinh viên năm 2 đại học Khoa học tự nhiên TP HCM, Duy có được học bổng tài trợ của DRD. Số tiền một triệu đồng mỗi tháng không quá lớn nhưng theo Duy, chính tấm lòng, sự quan tâm của các thành viên trong đại gia đình Đời Rất Đẹp đã tạo cho anh sự tự tin bước vào cuộc sống.

“Từ chuyện của đời mình, em hiểu rõ khó khăn mà những bạn khuyết tật khác đang gánh chịu. Em sẽ làm hết sức mình để truyền lửa cho họ. Tất nhiên khi người khuyết tật chúng em đã đủ bản lĩnh rồi thì vai trò của xã hội cũng hết sức quan trọng”, Duy nói.

Cùng với nhóm đồng hành là những người khuyết tật, dự án còn có sự tham gia của các chuyên gia y tế, chuyên viên tâm lý, đại diện Sở Lao động thương binh xã hội, luật sư và nhiều đại diện trong giới văn nghệ sĩ.

“Quan trọng hơn cả, để giúp các em cơ hội có được việc làm, chúng tôi còn kêu gọi sự tham gia hỗ trợ của hội doanh nghiệp trẻ và các doanh nghiệp lớn luôn gắn bó với hoạt động của DRD từ nhiều năm nay”, chủ nhiệm DRD nói.

Đại diện Sở Lao động thương binh xã hội cho biết, hiện TP HCM có khoảng 44.000 người khuyết tật. Hơn nửa số người khuyết tật hiện vẫn chưa có công ăn việc làm. Nguyên nhân do số đông người khuyết tật vẫn chưa đủ tự tin để vượt qua số phận.

Thiên Chương


Theo: http://dotchuoinon.com




Thế Của Rồng Vua
Theo lịch số Phương Đông, năm nay thời vận đến với chúng ta mang tên là Nhâm Thìn. Nhâm là thiên can thứ chín trong mười thiên can. Nhâm, trong âm dương thì thuộc về Thái dương và trong Ngũ hành, Nhâm thuộc về hành thủy. Nhâm mà chuyển dịch là thành vương. Vương là vua. Hành xử của vua, trên thì xuyên suốt đến thiên tào; dưới thì hành xử xuyên suốt đến địa phủ và giữa là hành xử thuận hợp với muôn dân thiên hạ. Tai vua nghe và biết xuyên suốt cả trời đất và con người; miệng vua nói ra là xuyên suốt cả ba thời gian quá khứ, hiện tại và tương lai, gọi là Thánh Vương.
Thìn là chi thứ năm trong mười hai chi. Ở trong âm dương, Thìn thuộc Thái dương. Thìn là Rồng. Rồng thì có bốn khả năng – Tự do bay lượn ở trên không gian – Tự do lặn sâu ở dưới nước – Tự do đi lại ở trong đất liền – Và tự do biến hóa bất cứ loài nào nếu nó muốn. So với muôn thú, thì tài năng của rồng là vượt hẳn hơn cả, vì thông minh và linh hoạt. Nên, Rồng là một linh vật tượng trưng cho uy quyền.
Vậy, năm Nhâm Thìn là năm hành xử của Rồng vua. Một sự hành xử đầy thông minh, linh hoạt và biến động không thể đo lường.
Nên, năm Nhâm Thìn là năm mà nhân duyên, quả báo đi tới với thế giới con người cũng giống như Rồng vua xuất hiện vậy. Nghĩa là sự thành bại, nên hư, được mất, thăng trầm xẩy ra cho thế giới chúng ta không một ai có thể lượng định trước được. Nụ cười và tiếng khóc của con người năm nay cứ chập chồng thay nhau liên tục. Vì sao? Vì vua Rồng thông minh mà tâm khí và hành xử bất thường vậy! Bất thường cũng đem lại nhiều lợi ích cho chúng ta mà cũng đem lại nhiều bất lợi cho chúng ta không thể diễn tả hết.
Tâm Là Tác Nhân
Ở nơi Long cung, vua Rồng Ta kiết la, đã từng hỏi đức Phật rằng: “Do đâu mà các loài thủy tộc hình tướng không có loài nào giống loài nào?”. Đức Phật dạy: “Tất cả chúng sanh do tư tưởng ở nơi tâm khởi lên khác nhau, khiến tạo nghiệp khác nhau, nên dẫn đến hình tướng quả báo của các loài cũng khác nhau”.
Tư tưởng ác, tác nghiệp ác, tạo nên hình tướng xấu ác. Tư tưởng thiện, tác nghiệp thiện, tạo nên hình tướng đẹp. Tư tưởng xấu ác, tạo tác thành nghiệp bất thiện, dẫn sinh quả báo khổ ưu, thất vọng. Tư tưởng lành mạnh, tác thành thiện nghiệp, dẫn sinh quả báo hỷ lạc, hạnh phúc, yên vui.
Cũng vậy, tư tưởng xuân, tác nghiệp xuân, tạo nên nhân duyên quả báo mùa xuân. Ta muốn có mùa xuân mà ta không có tâm hồn xuân, tư tưởng xuân, hành động xuân, thì mùa xuân đến khi nào mới trở thành hiện thực đối với chúng ta!
Nên, ta muốn có mùa xuân trong đời sống của ta, thì ta phải nắm lấy tâm ý để thực tập. Tâm ý thánh thiện sẽ tạo nên mùa xuân thánh thiện cho chúng ta. Tâm ý thấp kém sẽ tạo nên cho ta một xuân đau khổ, một cuộc sống nghèo hèn. Tâm ý rộn ràng sẽ tạo nên đời sống rộn ràng cho chúng ta. Tâm an tịnh sẽ tạo nên cho ta một đời sống an bình. Đời sống của ta chính là tâm ý của ta. Tâm ý của ta như thế nào, thì đời sống của ta sẽ xẩy ra đúng như tâm ý của ta vậy.
Ta muốn có mùa xuân Tịnh độ, thì ta phải biết nắm lấy tâm ý thanh tịnh của ta để sống và hành động. Tâm ý an tịnh sẽ cho ta mùa xuân thanh bình, an lạc. Tâm là tác nhân của mọi vấn đề.
Tự Tịnh Tâm Ý
Tự tịnh tâm ý là tháo gỡ phiền não ra khỏi tâm mình. Tâm ta vốn rộng lớn và sáng suốt, nhưng do phiền não bám vào, khiến cho tầm nhìn của ta bị hạn chế; khiến cho cái nghe của ta bị chướng ngại, không xuyên suốt; khiến cho những suy nghĩ của ta chỉ là những tư duy phiến diện, một chiều; khiến cho mọi lời nói của ta thiếu phẩm chất khoan hòa, độ lượng và khiến cho mọi hành sử của ta, chắng khác nào người bị thương tật một nửa tay chân.
Nên, mùa xuân không bao giờ có mặt với những người tâm ý đầy phiền não. Biết vậy, nên ta cần phải thực tập “tự tịnh tâm ý”, để mùa xuân thực sự có mặt ngay trong tâm ta và ngay trong đời sống của ta.
Tâm ta không thanh tịnh, ta không có chất xuân cho đời ta và ta không có chất xuân để hiến tặng cho những người ta thương yêu.
Vì vậy, ta phải tự tịnh tâm ý trước khi nói và làm, để mùa xuân và sự an lạc luôn luôn cùng ta hiện hữu.
Buông Xả Tự Ngã
Ngã chỉ là những ý niệm mà hoàn toàn không có thật thể. Ngã do vô minh tạo thành, do vọng tưởng khởi động và nuôi lớn những hạt giống phiền não tham, sân, si, kiêu mạn nơi tâm ta.
Nên, sự chấp ngã càng lớn, thì lòng ích kỷ nơi ta càng nhiều; sự chấp ngã càng lớn, thì lòng kiêu mạn nơi tâm ta càng lắm; sự chấp ngã nơi tâm ta càng sâu, thì sự sân hận nơi tâm ta càng bén nhạy và dễ bộc phát; sự chấp ngã nơi tâm ta càng kiên cố, thì chất liệu phân biệt, kỳ thị, tà kiến và mù quáng nơi tâm ta càng mãnh liệt; và càng chấp ngã bao nhiêu, thì đời sống của ta càng mất hết tự do bấy nhiêu. Tính chấp ngã nơi ta đã đẩy ta đi mãi, đi hoài trong biển cả khổ đau của sinh tử không có giới hạn.
Vì vậy, ta phải thực tập buông bỏ mọi ý tưởng về “tự ngã”, thì các loại phiền não tham, sân, si, kiêu mạn, mù quáng, tự nó rơi rụng, để tâm ta sáng lên, tạo thành mùa xuân đích thật cho ta và ta có thể đem tâm xuân mà hiến tặng cho mọi người.
Nuôi Lớn Chất Liệu Từ Bi Hỷ Xả
Ta chỉ có thể chuyển hóa phiền não, khi tâm ta có Từ Bi và Hỷ Xả. Từ là tình thương không ích kỷ; Từ là tình thương vắng mặt của tham, sân, si, kiêu mạn, mù quáng. Thương như vậy, có khả năng ôm ấp phiền não để chuyển hóa, khiến mọi thứ phiền não ấy nhẹ và yếu dần ở trong tâm ta và không còn có khả năng chi phối và điều động tâm thức ta đi về hướng tiêu cực.
Bi là hành động theo phẩm chất của từ hay của thương. Từ bao nhiêu là có bi bấy nhiêu; và bi bao nhiêu là có từ bấy nhiêu. Từ và bi như vậy, tạo nên sự quân bình của tâm, khiến cho tâm an trú vững chãi ở trung đạo, không bị nghiêng về một phía để hành sử của ta không bị thiên lệch không bị dẫn đến gãy đổ.
Từ là ôm ấp phiền não nơi tâm ta, khiến cho phiền não không còn có sự tự do hoạt động trên mặt ý thức của ta; và bi là khả năng chuyển hóa phiền não do từ ôm ấp, khiến phiền não tiếp cận dần với ánh sáng của nội tâm hay là năng lượng của tâm tỉnh giác. Chính năng lượng của tâm tỉnh giác nầy làm thay đổi và chuyển hóa phiền não nơi tâm.
Ví như gà mẹ xòe đôi cánh ôm ấp quả trứng, và năng lực hay sức ấm từ nơi sự ôm ấp ấy phát sinh, khiến cho bao nhiêu yêu tố trong lòng trứng đều được chuyển hóa thành con gà và đến một lúc gà tự mổ vỡ võ trứng để thoát ra.
Cũng vậy, lòng từ của ta ôm ấp phiền não, và do năng lực hay sức mạnh ôm ấp phiền não của lòng từ ấy, làm cho năng lượng của lòng bi phát sinh hay năng lượng của ý thức tỉnh giác phát khởi nơi tâm ta, khiến cho phiền não tự đốt cháy và đốt cháy cả võ trứng vô minh ở nơi tâm ta. Bấy giờ mùa xuân hay ánh sáng thiều quang nơi tâm ta tự tóa sáng và soi chiếu khiến ta an lạc..
Hỷ là niềm vui. Niềm vui do từ và bi đem lại, gọi là hỷ. Vui là vì nơi tâm ta, nhân và quả của khổ đau sinh tử không còn. Nhân của sinh tử là vô minh, phiền não và quả của sanh tử là sanh già bệnh chết. Nhân của sinh tử chấm dứt, quả của sinh tử đã được chuyển hóa, từ đó niềm vui sinh khởi. Niềm vui ấy gọi là hỷ. Hỷ sinh khởi từ tâm từ bi, hỷ ấy tạo thành mùa xuân chân thật cho ta.
Xả là giải thoát hay tự do. Tâm không bị phiền não trói buộc gọi là xả. Nghĩa là sau khi các loại phiền não nơi tâm bị đứt rã và đốt cháy bởi chất liệu từ và bi, nên tâm hoàn toàn có tự do đối với sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn. Tâm có chất liệu giải thoát hoàn toàn đối với Khổ đế và Tập đế; bấy giờ ta đi trên Thánh đạo mà không mắc kẹt ở nơi Đạo, thường trú ở nơi Niết bàn, nhưng không thấy có Niết bàn ngoài tâm tịch diệt. Nên, sống với tâm xả là sống với tâm rỗng lặng, với tâm tịch diệt hoàn toàn đối với Khổ và Tập. Xả chính là Vô Trú Xứ Niết Bàn.
Nuôi lớn bốn chất liệu Từ, Bi, Hỷ, Xả nơi tâm ta mỗi ngày, là mỗi ngày ta có khả năng chế tác ra mùa xuân và thế giới Tịnh độ đích thực cho ta.
Tinh Thần Hộ Pháp Và Hộ Quốc
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là bậc Vô thượng giác. Chứng đạt địa vị giác ngộ nầy là do Ngài chiêm nghiệm pháp, thực hành pháp và tự thân giác ngộ pháp, rồi từ nơi pháp giác ngộ, Ngài đem lại mùa xuân cho hết thảy muôn loài.
Trước khi trở thành Bậc giác ngộ, Ngài đã trải qua vô lượng kiếp thực hành hạnh Từ Bi Hỷ Xả.
Trong kinh ghi lại cho ta biết rằng: Cách đây 91 kiếp về trước, đức Phật Thích Ca khi hành Bồ tát đạo, lên núi hái thuốc để phục vụ cho Ngoại Đạo Tiên Nhân, thấy đức Phật Phất Sa ngồi trong hang đá nhập Hỏa định phóng quang. Bấy giờ Ngài chắp ta bảy ngày đêm, mắt nhìn Phật Phất Sa không hề nhấp nháy, rồi làm bài kệ tán dương đức Phật Phất Sa rằng:
“Thiên thượng thiên hạ vô như Phật
Thập phương thế giới diệc vô tỷ
Thế gian sở hữu ngã tận kiến
Nhất thiết vô hữu như Phật giả”.
Nghĩa là:
“Trên trời dưới đất không ai bằng Phật
Mười phương thế giới không ai sánh bằng
Bao nhiêu người, con đã gặp trong đời
Tất cả không ai có thể nào so sánh”.
Như vậy, ta thấy rằng, đức Phật Thích Ca đã trải qua vô lượng kiếp, vì đạo Bồ đề mà Ngài đã thực hành hạnh Từ Bi Hỷ Xả, để chặt đứt và tháo gỡ những phiền não ra khỏi tâm mình. Cảm đức hạnh của đức Phật Phất Sa, nhiếp tâm và đốt cháy phiền não bằng chất liệu Từ Bi Hỷ Xả ở trong đại định Hỏa quang tam muội, mà bấy giờ đức Phật Thích Ca đứng hầu bảy ngày đêm mắt không hề nhấp nháy và làm bài kệ ca ngợi hết lòng.
Không có Từ Bi, người tu sẽ không có khả năng nhiếp phục và đốt cháy phiền não nơi tâm mình, khiến cho tâm đức không thể tỏa sáng, và không thể giúp tâm trở lại với tự tánh vô nhiễm của chính nó. Và nếu không có tâm Từ Bi, thì ta không biết lấy gì để nhiếp phục và cảm hóa muôn loài.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sau khi thành đạo, trải qua tuần thứ ba, thì Đại Long Vương tên là Kala đã đến đảnh lễ đức Thế Tôn mà thưa:
“Bạch đức Thế Tôn! Cung điện nầy của con, xưa con đã từng cúng dường chư Phật quá khứ, các Ngài Câu Lưu Tôn, Câu Na Hàm Mâu Ni, và Ca Diếp, vì thương con nên đã thọ nhận và các Ngài đều đã có an trú ở trong cung điện nầy. Nay đức Thế Tôn là vị thứ tư, xin Ngài hãy thọ nhận sự cúng dường cung điện của con, để cho con đầy đủ công đức từ bốn đức Phật”.
Bấy giờ, đức Phật hoan hỷ thọ nhận cung điện của Đại Long Vương Kala.
Tuần thứ tư, đức Phật ngự ở trong cung điện của Đại Long Vương Kala bảy ngày, để cảm nhận niềm vui do chất liệu Tù Bi Hỷ Xả đem lại.
Sau đó, Ngài xuất định và gọi Đại Long Vương Kala đến bên cạnh truyền trao Ba pháp Tự quy và Năm giới. Đại Long Vương Kala là vị thọ Tam quy, Ngũ giới làm Ưu bà tắt đầu tiên của các loài súc sanh trong thế gian.
Bấy giờ, cũng có một Long Vương tên Mucalinda (Mục Chơn Lân Đà), hướng tới đức Thế Tôn đảnh lễ và thưa:
“Bạch đức Thế Tôn! Cung điện nầy là của con, xưa con đã từng cúng dường chư Phật quá khứ, các Ngài Cưu Lâu Tôn, Câu Na Hàm Mâu Ni, và Ca Diếp đã vì thương con, mà thọ nhận và đều có an trú ở trong cung điện nầy.
Nay, đức Thế Tôn là vị thứ tư, xin Ngài hãy thọ nhận sự cúng dường cung điện của con, để con có đầy đủ công đức và có lợi ích lớn từ bốn đức Thế Tôn”.
Bấy giờ, đức Thế Tôn hoan hỷ nhận lời.
Sau khi đức Thế Tôn nhận cung điện của Long Vương Mucalinda xong, vào tuần thứ năm sau khi thành đạo, Ngài ngự ở trong cung điện nầy, nhập định bất động bảy ngày.
Trong bảy ngày Ngài nhập định, trời đất, sấm sét, giông bão nổi lên liên tục. Bấy giờ Long Vương Mucalinda (Mục Chơn Lân Đà) từ cung điện hiện ra, dùng đại thân quấn bảy vòng che thân của đức Phật và bảy cái đầu làm thành cái lọng che trên đầu của đức Phật.
Sau bảy ngày trời đất trở lại yên lắng, Long Vương thâu thân trở lại, và hiện ra một chàng thiếu niên Bà la môn đến trước đức Phật chấp tay và bạch:
“Bạch đức Thế Tôn! Con không sợ Như Lai bị quấy nhiễu, con chỉ sợ rét lạnh, nước mưa, bụi bặm, muỗi mòng xúc chạm lên thân thể của Như Lai, nên con hiện thân thể bảy đầu để hộ trì Như Lai đó thôi”.
Nhân đó, đức Thế Tôn nói bài kệ:
“Lặng yên, biết đủ vui tối thượng
Biết đủ nhìn sâu hết thảy pháp
Thế gian an lạc không não hại
Chúng sanh không hại đều an lạc”.
“Người được an lạc ở trong đời
Hết thảy tham dục đều xa lìa
Bản tâm kiêu ngạo đều buông sạch
An lạc nào hơn an lạc nầy”.
Bao nhiêu dục lạc ở trong đời
Bon chen cho lắm cũng hoàn không
Hạnh phúc đây đó đem so sánh
Mười sáu phần không bằng một ty đâu”.
Sau khi nói kệ xong, đức Phật đã trao pháp Tam Tự quy và Ngũ giới cho Long Vương Mucalinda.
Tâm an tịnh và Từ bi hoàn toàn của Phật đã tạo nên phẩm chất giác ngộ của Ngài một cách hoàn hảo. Tâm giác ngộ ấy của Ngài đã nhiếp phục mọi người và mọi loài một cách tự nhiên. Vua Trần Nhân Tông đã cảm nhận tâm đức ấy, nên Vua đã từng phát biểu “Cảm đức Từ bi muôn kiếp nguyền cho thân cận”.
Bởi vậy, thời vận năm nay đến với chúng ta là Nhâm Thìn, nghĩa là năm của Rồng vua xuất hiện. Chúng ta phải biết nỗ lực tu tập Tự Tịnh Tâm Ý bằng chất liệu của Từ Bi Hỷ Xả để chuyển hóa phiền não nơi tự tâm, tạo ra sự an lạc cho bản thân và mùa xuân cho cuộc đời.
Mỗi Tăng Ni Phật tử chúng ta là mỗi vị hộ pháp. Chúng ta hãy dùng pháp Từ Bi Hỷ Xả để hộ tâm, hộ thân và hộ đời.
Tâm yên, thì thân vững, tâm động thì thân loạn. Tâm yên thì nhà yên, tâm động thì nhà loạn. Tâm dân yên thì nước yên, tâm dân loạn thì nước mất, nhà tan. Nên, ta hộ pháp chính là hộ quốc an dân vậy.
Quốc không được chánh pháp bảo hộ, thì người dân sẽ bị khốn cùng, mà người lãnh đạo quốc gia tự mình rước lấy tai họa và ân hận muôn đời. Nên, ngày xưa vua A dục của Ấn độ đã dùng Chánh pháp để an dân mà quốc gia thịnh trị; Thánh đức Thái tử của Nhật bản dùng chánh pháp an dân mà Nhật bàn cường thạnh một thời; các vua Tùy Đường của Trung quốc; Lý Trần của Việt Nam; cho đến triều vua Vatthagàmani Abhaya của Tích Lan, vua Narapatisithu của triều đại Pagan, và vua Bodawpaya của Miến Điện đều an dân, trị quốc trên nền tảng Phật pháp mà đất nước phát triển vững bền, và ngay cả Hiến pháp Thái Lan cũng ghi rằng, nhân dân được quyền tự do tín ngưỡng, nhưng đấng Quốc Vương bắt buộc phải là tín ngưỡng Phật giáo…Nhờ các vị quốc vương của các quốc gia ấy, biết hộ trì chánh pháp mà đất nước của họ đã có những thời kỳ thịnh trị huy hoàng.
Nên, năm nầy là năm của Rồng vua, mọi người ai biết lấy chánh pháp Từ Bi để hộ thân thì thân yên, hộ nhà thì nhà vững, hộ quốc thì thiên hạ thái bình, nhân dân an lạc. Nếu làm trái với Tự Tịnh Tâm Ý; với Pháp Từ Bi, thì đúng năm Rồng vua nầy, thế giới sẽ có biến đổi không lường, tai họa sẽ xảy ra mà không một ai có thể nào lường nổi!
Chùa Phước Duyên – Huế - Đầu Xuân Nhâm Thìn - 2012
Thích Thái Hòa

Tìm hiểu thêm: http://hangvanbian.blogspot.com/2012/01/5-loi-tien-tri-sai-be-bet-ve-ngay-tan.html
Copyright © NhocLak.Com .