
Tìm Về Cội Nguồn Myanmar
Ký sự chuyến du hóa của Hòa thượng Thái Hòa và Ban Thị Giả
Thư Viện Cổ Pháp
Sau những tháng bộ hành ở thánh địa Trúc Lâm Yên Tử và Hương Tích Bích Động - Chùa Hương, Quảng Ninh – Hà Nội. Một địa danh mang chiều sâu của nhiều câu chuyện tưởng chừng huyền thoại nhưng thực tế là điều có thật được lịch sử ghi chép hết sức nghiêm túc. Nói lên đời sống vương trượng của những con người xuất trần thượng sỹ, mong muốn có được thời gian ý vị, leo núi thảnh thơi, nghỉ ngơi tĩnh lặng và nhìn đời bằng con mắt liễu ngộ.
Phần 1: Yangon - Kyaikhtiyo - Golden Rock
Chúng tôi rất hạnh phúc được Hòa Thượng Thái Hòa (thầy Giáo Thọ) cho phép tháp tùng cùng đi. Chuyến đi Myanmar kéo dài từ ngày 13 đến ngày 20/12/2011. Từ khi Thầy giáo thọ có ý định du hóa tới miền Đất Vàng là lúc Ban thị giả cùng lên kế hoạch, lịch trình, dự kiến và tìm hiểu cho mọi phương tiện di chuyển. Mỗi người mỗi việc. Thời gian đó Ban thị giả đã tổ chức họp mỗi ngày để bàn bạc và chăm lo cho chuyến đi để Thầy giáo thọ yên tâm. Việc tìm hãng bay, thời điểm thích hợp, người phụ tá và lương thực lên đường v.v…Ai cũng có tâm huyết để chung tay và hết lòng với bổn phận của mình. Bản khảo sát là phi lộ được Ban thị giả thiết kế rất chu đáo như : “ Thấy Phật ở Myanmar, Hành trình Đất Vàng, Thư thỉnh, đi để hiểu về để thương, cảm nhận…” Trước ngày chuẩn bị, Thầy giáo thọ từ Huế phải có chuyến giảng dạy tại Hà Nội, sau đó Thầy giáo thọ vào thẳng Sài Gòn trước hai ngày để hướng dẫn và thăm học trò.
Hôm sau, từ nhà cư sĩ Tâm Lý, B.s Minh, Thầy giáo thọ cùng Ban thị giả lên đường cùng nhau ra phi trường Tân Sơn Nhất Quốc Tế để làm thủ tục hải quan. Tất cả Phái đoàn gồm có (Hòa thượng Thích Thái Hòa Chùa Phước Duyên, Thượng tọa Thích Tín Hải Chùa Phổ Quang, Thượng tọa Thích Vân Pháp Chùa Từ Vân, Đại đức Thích Pháp Mãn Chùa Thuyền Lâm, Đại đức Thích Pháp Bảo Thiền Viện Vạn Hạnh, Phật tử Nhuận Đức Ân, Nguyên Niệm, Nhuận Thánh Đức). Với sự hỗ trợ của quý Tăng Ni sinh du học tại trường Phật học ở Yangon, Thầy Hữu Tấn, sư cô Minh Tú, sư cô Minh Toàn là một trong những vị Tăng lữ đã có nhiều thời gian cùng tu tập chung với nhau tại một tu viện – Bảo Lộc rất thanh bình và hòa hợp. Có mặt ở cửa khởi hành hành vào lúc 11h 40’, hành trình bay của Vietnam Airline đến thủ đô Yangon là một giờ ba mươi phút (13h 25’ giờ địa phương). Thầy giáo thọ với khuôn mặt, nụ cười rất tĩnh tại cũng làm xoa dịu đại chúng sau những giờ bay xa, đi máy bay nhỏ nên ngồi trong cabin hơi ngột ngạt, khó chịu nhưng ai cũng chuẩn bị trước cho mình một tư tưởng tế nhị, tâm lý thoải mái với một đất nước đang chuẩn bị bước qua ngưỡng cửa cấm vận. Máy bay sắp hạ cánh, thì ôi! Đất nước Vàng hiện ra như bàn tay nâng đỡ của ánh nắng từ bi chan chứa, bấy lâu làm tình người viễn xứ xa cách nghìn trùng.
“Đặt chân lên xứ sở chùa Vàng đã thôi thúc cho tôi không ngừng tìm hiểu tất cả thông tin liên quan cho chuyến đi.
Thấy Phật ở Myanmar - Đó có thể là vị Phật tiền kiếp từ các thánh tích cổ xưa trên đất Miến Điện mà cũng có thể là vị Phật hiện tại từ niềm tin bất diệt của người dân nơi này. Và biết đâu đó cũng có thể là vị Phật tương lai sẽ xuất hiện ngay giữa hiện kiếp thường ngày mà chúng ta có thể bắt gặp ở mọi ngóc ngách của cuộc sống...
Hành trình của chúng tôi kéo dài 8 ngày 7 đêm xuyên suốt từ Yangon chùa Vàng đến Golden Rock linh thiêng huyền bí, Bagan cổ kính trầm mặc và cuối cùng là hồ Inle thật yên bình và thanh thoát”.
Thầy trò chúng tôi lên xe để đến thăm trường đại học Phật giáo quốc tế, sau đó giải lao, ăn nhẹ, uống trà tại phòng riêng của Thầy Hữu Tấn. Thầy giáo thọ đã có vài câu chuyện, thăm hỏi về các công trình nghiên cứu Phật giáo Nam Tông của những năm qua ở Myanmar và chương trình đào tạo Tăng Ni sinh? Có vẻ Thầy giáo thọ cũng đang mang trong mình một trái tim đại thừa, tìm lại những dấu tích một thời tổ tiên tâm linh lưu lại từng trang thi kệ và bóng hoàng y đã in đậm vào vách mái chùa màu rêu phong được phủ ra bên ngoài một lớp sơn vàng nghệ hay đỏ ối huyền bí. Rời Phật học viện chúng tôi với Thầy giáo thọ đi thiền hành quanh vườn rồi ghé vào đại thư viện lễ Phật sau đó Thầy trò cùng sang Chùa Shwedagon được tương truyền nơi tôn thờ Xá lợi tóc của Đức Phật. Chùa nguy nga, tráng lệ - nổi tiếng với ngọn tháp vàng cao 99m được dát vàng lá, đính 5400 viên kim cương, 2300 viên đá quý và hồng ngọc xung quanh, nơi đây đã trở thành một nơi đảnh lễ linh thiêng bậc nhất của người dân Myanmar.
Không ai biết chính xác ngôi chùa Shwedagon Paya ở Myanmar được xây dựng khi nào - theo truyền thuyết kể rằng ngôi chùa đã có 2.500 năm tuổi mặc dù các nhà khảo cổ ước tính rằng ngôi chùa được xây dựng giữa thế kỷ thứ 6 và thứ 10.
Nói đến chùa Shwedagon, vàng có nghĩa là được dát vàng! Trong thế kỷ 15, một nữ hoàng của dân tộc Môn đã ban tặng khối lượng vàng bằng với trọng lượng sức nặng của mình cho ngôi đền. Truyền thống này vẫn tiếp tục cho đến ngày hôm nay, nơi người hành hương thường tiết kiệm tiền trong nhiều năm để mua những gói lá vàng nhỏ để dát vào các bức tường ngôi đền. Các chóp của ngôi tháp và mái vòm được bao phủ với hơn 5.000 viên kim cương và 2.000 viên hồng ngọc (có cả một viên kim cương 76 carat ở trên đỉnh!). Và ngôi chùa này là một trong những di tích thiêng liêng nhất trong Phật giáo: thờ tám xá lợi của Đức Phật.
"Mặc dù dân của họ rất nghèo, nhiều người tự nghĩ tại sao chùa có chạm ngọc kim cương như thế mà không bị mất cắp? Dĩ nhiên ở đâu lại chẳng có người tham lam, ích kỷ. Tuy nhiên không phải họ sợ luật pháp, mà họ sợ nhân quả. Nếu ở một nước kém đạo đức và lòng tin đối với Đức Phật không cao, thì chắc chắn những mái ngói bằng vàng ấy và những viên kim cương kia chưa chắc còn tồn tại mãi cho đến ngày hôm nay. Có lẽ người ta tin rằng, luật pháp của thế gian họ có thể qua mặt được, nhưng nhân quả theo đạo Phật thì không bỏ sót một ai và vì họ hiểu rõ nhân quả nên họ đã chế ngự lòng tham"
Đúng vậy. Chúng tôi đã thấy tận mắt một thế giới lung linh sắc màu huyền ảo lấp lánh giống như trong kinh A- Di- Đà diễn tả về thế giới Cực Lạc vậy. Tôi đã thấy ai cũng đến đây cùng với tâm hết sức thành kính. Những thùng tiền cúng dường để đầy khắp mà vẫn không bị mất cắp. Kết quả tốt dành cho một đất nước theo đạo Phật và họ đã ứng dụng đời sống tâm linh của đạo Phật vào trong chính cuộc sống hàng ngày của mỉnh.
Thầy trò chúng tôi đã hòa mình vào dòng người đi hành hương đông nghẹt, cùng ngồi thiền và cầu nguyện trên khoảng sân đá mát lạnh. Tôi thấy lòng mình thanh thản hơn, dịu nhẹ hơn. Thật tự hào cho người dân Myanmar vì đã xây dựng và gìn giữ một kiệt tác kiến trúc kỳ vĩ, thanh tao như thế này.
Rời khỏi chùa Shwedagon, thầy trò chúng tôi bắt gặp ánh trăng hiện ra sau khung cửa giữa các ngọn tháp vàng của chùa. Một khoảnh khắc thật lung linh và huyền ảo mãi dõi theo bước Thầy trên suốt đoạn đường về...
Bùi Kim Anh còn phải cất lên rằng: “Đến Shwedagon vào lúc hoàng hôn mới cảm nhận được phần nào vẻ đẹp tráng lệ và linh thiêng. Ánh mặt trời khi hoàng hôn làm sáng lên thêm sắc vàng của tòa tháp vàng khổng lồ. Hình ảnh thực bỗng ngời lên kỳ vĩ như trong thần thoại, truyền thuyết. Ta bỗng như lạc vào một thế giới khác, bỗng như mất cảm giác là ta bé nhỏ và hiện hữu. Diệu kỳ. Chói sáng. Và huyền ảo. Theo những người hành hương Myanmar dâng hoa lễ Phật, múc nước tắm cho các tượng Phật, rồi khoác lên tượng Phật những vòng hoa nhài tinh khiết, dịu nhẹ hương thơm với lòng tôn kính và mãn nguyện. Tìm cho mình một chỗ ngồi trên nền sân rộng, giữa bao tấm lòng mộ Phật mà cầu nguyện tốt lành. Tất cả đều khác – cảnh chùa, cảnh Phật – khác với Việt Nam. Ở đây, ta có thể tận mắt chứng kiến các nghi thức của trung tâm Phật giáo Myanmar khi cầu nguyện và dâng lễ vật. Shewadagon là niềm kiêu hãnh của Myanmar, là thành tựu vĩ đại của con người trong lao động và sáng tạo.”
Từng bước của Thầy dường như chậm lại để chiêm ngưỡng, cảm niệm về một tiếng kinh thầm lặng vô ngôn.
Đoàn được hướng dẫn viên đưa về khách sạn Asia Plaza để dùng cơm và nghỉ ngơi. Một giấc ngủ thật sự trở nên yên tĩnh và khỏe khoắn sau một ngày di chuyển hành hương thăm viếng.
Buổi sáng ở Myanmar thật thanh bình và nhẹ nhàng như vầng mây trôi lững lờ, từ lầu của tòa nhà nghỉ chúng tôi có thể quan sát khắp thành phố Yangon, rộng mênh mông, xa xa có những dòng sông uốn lượn theo ánh nắng ban mai. Điểm tâm sáng xong, Thầy trò chúng tôi lại lên xe hướng về hang động Mahapasana Guha, nơi đánh dấu lần đại hội kết tập kinh điển, luật tạng lần thứ sáu. Thầy giáo thọ cùng với tất cả đại chúng trang nghiêm từng bước đi vào đảnh lễ tại lễ đài tọa thân của các bậc cao tăng thánh nhân lúc bấy giờ. Đúng thật, mình chỉ cần đến đây nương tựa vào bóng dáng uy nghi của một không gian trầm hùng thì chúng ta cũng đã như có phước báu từ vô lượng kiếp. Tiếng chuông hòa bình được Thầy giáo thọ thỉnh lên là bao âm thanh chim chóc, nắng mai kéo về để thức tỉnh tâm tư con người trong kiếp phù sinh tan hợp. Chùa Kaba Aye, ngôi chùa của hòa bình thế giới cũng nằm cạnh bên mà chiều tối qua chúng tôi đã tham quan và hành lễ.
Giờ khởi hành tiếp theo là vào ngày 14/12/2011, từ Yangon đến Kyaikhtiyo. Golden Rock và sức mạnh của lòng tin: “Bàn tay sáng tạo của con người kết hợp với tuyệt tác thiên nhiên đã tạo nên hình tượng kỳ diệu. Kyaikhtiyo – Núi đá vàng, Chùa vàng – Golden Rock, nơi con người trang trí một phần núi đá thành ngọn tháp có mạ vàng xung quanh, điểm đến đầu tiên của hầu hết những ai đến thăm Myanmar. Chùa Kyaikhtiyo có chiều cao 5,5 mét. Lời truyền lại rằng nơi đây còn lưu giữ tóc của Đức Phật được đặt trên một tảng đá lớn. Chính sợi tóc này đã giữ cân bằng cho tảng đá nằm bên trên vách núi. Tảng đá có hình thù giống như đầu của một người đàn ông, được cho là đầu của một ẩn sĩ có nhiệm vụ mang tóc của Đức Phật để trong con cá bơn của ông trước khi qua đời. Ông đã để lại lời chỉ dẫn để tìm thấy tóc của Đức Phật trên tảng đá ở trên đỉnh của ngôi chùa, nay được gọi là Đá Vàng. Tảng đá như được cân bằng bên vách núi cheo leo không hề bị rơi xuống. Chính điều này khiến cho người ta tin rằng: "khi đi hành hương về đây, sẽ mang lại cho họ sức khoẻ tốt và sự giàu có…”. Ngôi chùa Kyaikhtiyo là viên ngọc của thủ phủ Mon - Myanmar và được xem như là một phép lạ đối với các tín đồ Phật giáo.”
Sau một chặng đường dài băng qua những con đường khô cằn đầy cát bụi, xe chúng tôi tới trạm dừng chân nằm ở dưới chân núi để lên thùng xe tải. Gọi là thùng xe tải vì nó không có mui, trên thùng xe có khoảng chừng 8-10 thanh gỗ dài bắt ngang để làm ghế. Đoàn chúng tôi thật may mắn vì là những người cuối cùng đủ đầy cho chuyến xe để có thể khởi hành (thông thường phải đợi đủ 43-45 người mới khởi hành). Lúc này thì cả đoàn đều rất phấn khích vì thực sự là không thể nào tưởng tượng ra bác tài xế có thể vận chuyển được chừng ấy người trên một con đường leo núi dốc ngược và quanh co như thế. Có một điều khiến tôi thán phục người Miến là họ đã chất đầy các bao cát trên đầu xe với mục đích thăng bằng và cản trở tầm nhìn của du khách để tránh tâm lý cảm giác sợ hãi. Tất cả những gì du khách có thể thấy được chỉ là hai bên đường mà thôi.
Ấn tượng đầu tiên khi rời xe tải để leo bộ lên đỉnh núi là hình ảnh của người bản địa tìm việc làm và kiếm tiền bằng cách khuân vác hành lý hoặc kiệu người lên đỉnh núi. Họ dễ thương lắm vì sự cần mẫn và lầm lũi làm việc nhưng lại với một phong thái rất thong dong và thảnh thơi. Có một anh nhận khuân vác hành lý cho đoàn chúng tôi. Một cái gùi chất cao mang trên vai của anh. Thầy giáo thọ nói với chúng tôi rằng anh ấy mang hành lý trên vai nhiều như thế nhưng khuôn mặt và phong thái của anh ấy nhiều khi có thể thảnh thơi hơn du khách nhiều. Thầy giáo thọ leo núi thật tuyệt vời. Thầy lúc nào cũng là người dẫn đầu mặc dù là người cao tuổi nhất trong đoàn. Cả đoàn hát vang bài hát "Lên non" của Thầy để động viên khích lệ lẫn nhau lên núi.
Hoàng hôn xuống cũng chính là lúc chúng tôi đến và nhìn thấy "Golden Rock". Nhìn trên bầu trời ráng hồng, không khí se se lạnh và văng vẳng tiếng kinh cầu từ chùa Đá Vàng tạo cho chúng tôi một cảm giác khó tả. Nhìn xa xa trong ánh hoàng hôn, "tảng đá thiêng" lung linh và huyền ảo một màu vàng. Thật may mắn khi khách sạn của chúng tôi nằm ngay sát Golden Rock nên có một cái view rất tuyệt vời. Không khí khá nhộn nhịp bên ngoài do những đoàn du khách đi hành hương, cầu nguyện. Chúng tôi cùng Thầy háo hức vào chùa để chiêm bái. "Chiều xuống vạch một đường chân trời hồng rực phía xa xa, mặt trời từ từ tụt xuống, khuất mình giữa bảng lảng núi non và sương chiều. Đêm ập đến, phủ tấm áo đen lên vạn vật, nhưng không sao che được tảng đá thiêng đang rực lên trong ánh đèn vàng, xung quanh tiếng cầu nguyện rì rầm, mùi khói hương ngạt ngào hòa quyện."
Bùi Kim Anh còn chia sẽ thêm “Đỉnh núi với một khách sạn nhỏ mà thơ mộng khoáng đạt. Dưới kia là núi non, rừng rậm. Xa kia là chùa, là núi Đá vàng. Đường từ khách sạn sang chùa không xa. Tất cả du khách đều gửi giày dép nơi chân bực thang trước khi đi trên đường lát đá vào khu chùa. Ở Myanmar là vậy, vào nơi chùa nào cũng để giày dép bên ngoài. Bỏ lại những gì bụi bặm, phàm tục, đi chân đất để cảm nhận tất cả sự mát lạnh của đá, của thiên nhiên. Có thể cầu xin những gì? Ở Myanmar không gặp những mâm cao chất đầy gà, xôi, hoa quả…và nhất là các loại tiền giấy dương gian, âm phủ như ở Việt Nam. Và như vậy cũng chẳng có nơi đốt tiền, chia đồ lễ. Mọi người tới, quỳ lạy, chắp tay thành kính, tâm hướng về cõi Phật mà thầm cầu nguyện. Những người đàn ông được qua cửa rào vào sát Đá vàng, được chạm vào nơi linh thiêng. Những người đàn bà từ ngoài vái vọng. Đỉnh cao gió bốn bề, núi Đá vàng rực chói dưới ánh đèn, nhìn xuống là rừng, là núi tiếp nối, là sân viên, sân chùa rộng, lối vào chùa người ra vào đông đúc. Không ồn ào, không chen chúc. Người ta gọi nhau, người ta nói chuyện nhưng tất cả vẫn dễ chịu bởi sự ngưỡng mộ và lòng thành kính. Hàng năm, cứ đến đêm 31 tháng 12, chùa Kyaiịhtiyo lại phát sáng từ 9.000 bóng đèn và mùi thơm từ 9.000 bông hoa hồng từ khách hành hương đến đây”.
Một sự mầu nhiệm thiêng liêng được toát ra từ vách núi và hơi ấm của Thầy, đã làm cho khung cảnh trở nên huyền ảo, với tâm nguyện chiêm bái Thánh tích. Sau bữa ăn nhẹ, thì Thầy trò cùng leo núi, để đến điểm tâm linh sáng chói. Vừa đi Thầy dặn các con cần đi cho vững chãi, ý thức mình đang có may mắn là chúng ta sẽ đi cho cha mẹ, đi cho tổ tiên, thân bằng quyến thuộc. Những lời cầu nguyện của Thầy vào chiều hôm đó thật tha thiết, bình an vô cùng. Đoàn đã tổ chức một khóa lễ nhỏ, ngồi thiền, tụng kinh, phát nguyện ngay bên pháp tượng Đá Vàng.
Tiếng kinh niệm được phát ra của hàng ngàn người hành hương đến từ nhiều quốc gia trên thế giới. Thầy đã hướng dẫn đoàn đi kinh hành quanh pháp địa và chứng minh tâm thành của hàng đệ tử, Thầy giáo thọ còn ban pháp tự cho phật tử Phạm Châu Thương pháp danh Nguyên Niệm tự Toàn Như. Không gian thật mênh mông vô cùng vô tận qua đỉnh núi ta có thể nhìn thấu biển Ấn Độ Dương.
Lúc 10 giờ đêm, Ban thị giả mời Thầy giáo thọ về khách sạn Kyaikhtiyo nghỉ ngơi còn một số ở lại tiếp tục ngắm sao trời và khám phá nền tâm linh cổ qua người dân bản xứ hành trì pháp môn tu học. Khoảng nữa tiếng sau chúng tôi mang trà ra uống và nhắc nhở lại mình với những cảm thọ ( Thân, Thọ, Tâm, Pháp) qua sự hiện diện thân tướng bản lai diện mục tại một nơi rất thiêng như Golden Rock.
Buổi sáng sớm Thầy trò trở lại núi Đá Vàng. Khi Thầy vừa lên thì lúc bình minh cũng chớm ló dạng. Thầy ngồi yên và nhìn về phía mặt trời. Bình minh ở Golden Rock đẹp lắm. Lòng nhẹ nhàng, chúng tôi buông bỏ tất cả phiền muộn của thế gian để chú tâm ngắm mặt trời đi lên từ đỉnh núi và Thầy đọc thơ cho chúng tôi nghe. Bài pháp thoại của Thầy sáng hôm đó thật hay và sâu lắng bằng những phương pháp hành đại thừa. Cả đại chúng cùng ngồi xung quanh Thầy với một không gian bình yên và Thầy giáo thọ còn dạy là có lúc "quên mình mà cầu nguyện". Sau đó Thầy đọc một bài thơ: Hương Xưa Mãi Còn
Bình minh từ núi đi ra
nuôi sinh linh giữa hằng sa mạch nguồn;
nâng vầng nhật, giữa càn khôn
cho bình yên giữa sóng cồn bể dâu.
Thế gian thấm mát ơn sâu
mười phương bắc một nhịp cầu Từ bi;
Não phiền chuyển hóa lưu ly
hóa vô biên cõi nghĩ nghì được nao!
Mỗi trời có mỗi trăng sao
Có vô biên nẻo để vào như nhiên;
Cheo leo thiên thạch diệu huyền
Cúng dường tóc Phật thừa truyền ngàn xưa.
Cảm ơn đời nắng và mưa
Đất vàng Miến Điện hương xưa mãi còn!
Thầy giáo thọ mời tất cả nhân viên của khách sạn Kyaikhtiyo tập hợp lại chụp hình kỷ niệm và nhận quà của Thầy. Thầy giáo thọ còn gieo duyên và thăm hỏi lớp Tăng trẻ, Thầy nhắc đến cả anh khuân vác, Thầy trân quý từng nơi đi qua, Thầy đối xử bình đẳng với tất cả mọi người xung quanh. Thầy chẳng bao giờ quên sự có mặt của ai cả...Tâm từ bi của Thầy trải rộng ra, ai cảm thì nhận. Suốt từ sáng giờ Thầy trò cùng cầu nguyện, trì tụng và ngồi thiền tại sân ngoài thánh địa Golden Rock mà chẳng ai muốn bỏ lở cơ hội một kiếp người đến đây. Sau đó các Thầy trò cùng nhau xuống núi thật thanh thản, bao tâm tư một thoáng đầy vơi sự cô tịch của ngàn năm về lại nơi từng bước chân, ánh mắt, nụ cười, hơi thở có mặt cho nhau.
Phần 2: Vào rừng thiền - Yangon – Bagan
Thích Pháp Bảo
(Chú thích: có sử dụng tư liệu, nhật ký khác)


“LÀM VIỆC HẾT LÒNG LÀ NGƯỜI TRỌN ĐẠO!”
Đó là lời dạy của Ôn Linh Mụ (HT Thích Đôn Hậu) mà thầy của chúng tôi lấy làm phương châm và dẫn dắt chúng tôi từ những ngày chập chững học Đạo ở chốn Thiền môn. Trải qua nhiều năm học Phật, tôi không những chưa hề thấy lời dạy ấy là giáo lý dành riêng cho hàng sơ cơ, mà còn nhận ra nó là lời dạy từ kinh nghiệm tâm linh, là hành trang thiết yếu cho tiến trình giác ngộ và giải thoát. Với vai trò như thế, lời dạy ấy có thể được xem là kết tinh của giáo lý đạo Phật, là cam lồ cho mọi cõi lòng. Tôi xin trình bày một vài quan điểm truyền thống và ứng dụng của lời dạy mà tưởng chừng như mộc mạc nhưng thật thâm sâu và thiết thực đối với đời sống tu tập của người đệ tử Phật xuất gia lẫn tại gia này.
“Làm việc hết lòng là người trọn Đạo” là câu nói rất việt nam, mang một ý nghĩa trọn vẹn và hoàn hảo mà ai cũng có thể hiểu và ứng dụng được. Nó có thể được bao gồm trong những khái niệm quan trọng như ‘Bồ-đề tâm’, ‘Chánh kiến’, ‘Ngọn đèn lòng’, ‘Tự làm hòn đảo cho chính mình’, vv. Nhưng người ta có thể hỏi ‘Bồ-đề tâm là gì?’ ‘Chánh kiến là gì?’ v.v. mà chẳng ai hỏi ‘Làm việc hết lòng là người trọn Đạo là gì?’, trừ phi họ muốn tìm hiểu sâu hơn về lời dạy này.
‘Lòng’ là từ thuần Việt tương đương chữ ‘tâm’ (Hán-Việt) nhưng nó không ôm lấy nhiều ý nghĩa trừu tượng và triết học như chữ ‘tâm’ trong kinh điển Phật giáo. Đơn giản, chữ ‘lòng’ hàm nghĩa khát vọng của con tim. ‘Làm việc hết lòng’ là trải hết lòng mình ra, không vì mình mà chỉ vì công việc mình làm. ‘Hết lòng’ hiển thị một tinh thần vô ngã theo đúng giáo lý truyền thống của Phật giáo. Những ý tưởng về ‘tôi’, ‘của tôi’, ‘tự ngã của tôi’ tuyệt nhiên không có chân đứng trong khi hết lòng vì một công việc gì. Những ý tưởng này luôn luôn tỷ lệ nghịch với ‘hết lòng’. Do đó, hết lòng được gọi là ‘trọn đạo’ vì nó là vô ngã.
Hai chữ ‘hết lòng’ mang nội dung Bồ-đề tâm nhưng chứa đựng một ý nghĩa gần gũi với tâm tư người Phật tử ngay trong lối sống thường nhật ở đời này. Nó có thể được gọi là hết lòng khi giúp đỡ người khác, là chuyên chú khi làm việc, là nhứt tâm khi tu tập, là tôn kính khi cúng dường, là từ ái khi bố thí, vân vân. Nói chung, tác dụng của nó là giúp ta ý thức chu đáo và tập trung hoàn toàn vào hành động mình đang làm. Tuy nhiên, những người duy lý có thể phản bác quan điểm ấy với kiến giải rằng làm việc mà chỉ bằng tấm lòng không thôi thì không đủ vì thiếu lý trí sẽ dẫn đến làm sai. Quan điểm ấy chỉ đúng trên các hiện tượng thực dụng và tổ chức xã hội, nhưng không thể đúng trên bình diện tâm người mà đạo Phật đặc biệt nhắm tới. Những người như thế ắt đã mắc phải sai lầm vì họ thiếu tính nhân bản, đã đòi hỏi quá khả năng căn cơ mà người khác có thể có. Họ không thấy rằng khi một người đã hết lòng làm việc gì thì có nghĩa người ấy dốc hết tất cả khả năng và tâm tư của mình, như trí tuệ, công sức và tiền của, để làm công việc đó! Trong Phật giáo, người hết lòng như vậy luôn luôn được người trí tán thán, bất kể kết quả việc làm đó như thế nào.
Đối với phần lớn Phật tử, giáo lý Phật giáo quá nhiều nên việc hiểu để tu hành đúng pháp là một vấn đề khó khăn. “Pháp là gì?” hay “Đạo –con đường giải thoát– là gì?” có lẽ là những câu hỏi thường được đặt ra trong giới Phật tử. Thật ra, Pháp của đức Phật chỉ tùy theo tâm của chúng sanh mà diễn thuyết. Giáo pháp của Ngài đa dạng là vì tâm tư của chúng sanh quá đa dạng.[1] Cũng trên tinh thần ấy nhưng hợp với mọi căn cơ, lời dạy ‘làm việc hết lòng’ rọi thẳng vào tâm tư của mỗi chúng ta. Nó mang nội dung đơn giản dễ hiểu, giúp chúng ta tự nhận ra pháp môn tu tập ngay trong các sinh hoạt của mình.
Bất kể là hàng sơ tâm hay thượng trí, làm việc hết lòng luôn luôn là cần thiết vì nó mang ý nghĩa ‘hộ trì tâm’ và ‘chánh niệm tỉnh giác’. (Còn làm việc không hết lòng thì gọi là phóng dật.) Đức Phật cũng được biết là bậc đã làm việc hết lòng khi thuyết giảng Chánh pháp. Trong Kinh Tăng Chi (A. iii, 121), Ngài nói: “Nếu Như Lai thuyết pháp cho các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, cho hàng nam cư sĩ, nữ cư sĩ, cho các hàng phàm phu, các người bắt chim hay ăn xin, Như Lai thuyết pháp hết sức cẩn thận chu đáo, không phải không cẩn thận chu đáo.” Và Ngài nói thêm rằng Ngài làm vậy vì Ngài là bậc tôn trọng Pháp, là bậc tôn kính Pháp. Như vậy, người đệ tử Phật có thể hiểu ‘làm việc hết lòng’ là tôn trọng Pháp và cũng là trọn Đạo.
‘Trọn Đạo’ ý nói không cần phải làm gì khác nữa. Nó khích lệ người Phật tử chủ động và chuyên chú hoàn toàn vào công việc của mình. Điều duy nhất cần quan tâm ở đây là hãy xem mình đã làm việc hết lòng chưa. Chẳng hạn, Kinh Trường Bộ (D. ii, 357) hướng dẫn cách thức bố thí thế này: “Hãy bố thí một cách hoàn bị, hãy bố thí với tự tay mình làm, hãy bố thí một cách có suy tư, hãy bố thí với đồ không phế thải”. Như vậy, thái độ bố thí được xem là quan trọng hơn vật thí. Đức Phật trong Kinh Bổn Sanh (Jātaka, số 346) nói: “Thức ăn tốt nhất là thức ăn được cho với tình yêu thương”. Cũng vậy, để sống đúng, người Phật tử khi làm gì cũng cần phải chú ý đến thái độ của mình. Ví dụ, chúng ta hằng ngày làm việc trong công sở là vì yêu thích công việc hay là vì đồng lương để cứ trông chờ ngày giờ qua mau? Hoặc khi chăm sóc một người bệnh, chúng ta có hết lòng chăm sóc với ước mong người ấy được bớt bệnh khổ mà bất kể người đó đã từng không tốt với mình, hay vì người đó không phải là Phật tử? Hoặc khi làm công tác từ thiện, chúng ta làm với lòng từ bi và đồng cảm để xoa dịu những nỗi khổ đau của người khác hay là vì những lý do nào khác như danh lợi? Thái độ thật sự tác động rất lớn đến hiệu quả của công việc. Và theo Phật giáo, nó là yếu tố chính xác định một người là hạnh phúc hay khổ đau ở đời mà không phải là vấn đề giàu hay nghèo, giỏi hay dốt. Ở đây, làm việc hết lòng là một thái độ tích cực trọn vẹn đối với công việc nên nó được xem là trọn đạo vậy!
Thái độ thật ra chính là tâm, là trạng thái tâm lý. Với tâm như thế nào, người ta sẽ có thái độ như thế ấy và thường biểu hiện ra ngoài qua lời nói và việc làm. Mối liên hệ giữa tâm, lời nói và việc làm là ba yếu tố quan trọng trong giáo lý đạo Phật mà chúng ta quen gọi là ba nghiệp (thân, khẩu, ý). Tuy nhiên, tâm là động cơ chính dẫn đến các hành vi của lời nói và việc làm. Hành vi tốt hay xấu thế nào, thiện hay ác ra sao đều dựa trên mức độ thiện hay ác của tâm để xác định. Hai bài kệ đầu tiên của Kinh Pháp Cú nói tâm là chủ nhân của mọi nghiệp thiện, ác. Hoặc chúng ta thường nghe: “Ngoài tâm không có Phật!” Và nhiều học giả Phật giáo cho rằng “Điểm xuất phát của đạo Phật là tâm người” (The starting point of Buddhism is the human heart). Đó là những chứng cứ xác định lập trường của Phật giáo lấy tâm làm gốc.
Do đó, Phật giáo chỉ dựa vào tâm để đánh giá một người là đúng hay sai, thiện hay ác, tốt hay xấu. Người Phật tử không thể hời hợt nhìn vào sự thiệt hại vật chất do người nào đó gây ra mà không xem xét cái tâm như thế nào mà người ấy đã đặt vào đó. Chẳng hạn, chúng ta không thể nguyền rủa một người vì vô tâm hay sơ ý làm vỡ cái bình trà, thậm chí những món đồ quý giá hơn, mà ở đây chỉ nên khuyên người ấy cố gắng cẩn thận mà thôi. Một Phật tử dễ dàng ứng xử như thế nếu vị ấy nhận thấy rằng mọi sự vật ở đời đều là vô thường, dã hợp, do duyên sinh và có tánh hoại diệt. Câu tục ngữ mà hầu hết người Việt Nam thuộc nằm lòng là “Người đời, của tạm!” chứa đầy ý nghĩa sống của Phật giáo như thế. Đánh mất đi tình người chỉ vì các thứ vật chất thì thật là điều đáng tiếc! Trong khi đó, sự thiệt hại vật chất do vô tâm gây ra (vô ký nghiệp) chỉ được xem là do thất niệm hay thiếu chánh niệm tỉnh giác mà không phải là do ác nghiệp, tức không cố ý làm sai, làm ác. Ai với tâm cố ý làm sai, làm ác thì người đó mới là kẻ bất trị và được liệt vào hàng ác đạo vì không có thuốc chữa bằng thiện pháp; còn người tạo nghiệp do thất niệm thì không phải như vậy! Để khắc phục thất niệm, người Phật tử chỉ cần thường xuyên chuyên chú vào hành động thân, khẩu, ý của mình và huấn luyện tâm bằng chánh niệm tỉnh giác. Trong trường hợp này, ‘làm việc hết lòng’ là lời dạy không chỉ đặt ra ngoài tâm xấu ác mà còn hàm ý khuyên chánh niệm tỉnh giác nữa.
Ý thức mình cần phải làm gì cho phải lẽ và đúng pháp là điều tối quan trọng mà không thể để cho các thứ tình cảm hay dư luận xung quanh tác động. Đây là định hướng đúng đắn đối với bổn phận của mình. Trong thực tế, chúng ta dường như thường bỏ lỡ nhiều cơ hội tốt cho công việc chung và làm đổ vỡ tình người vì những lý do ngoại lai như thiên kiến cá nhân hay các quan niệm và dư luận xã hội. Càng bị phan duyên bên ngoài, chúng ta càng khó ý thức được những gì cần phải làm. Thấy như vậy là chánh kiến trong Phật giáo và chánh niệm tỉnh giác là công cụ tốt nhất cho sự thực hành!
Hết lòng không phải chỉ bằng lòng tin mà đúng ra là bằng lý trí đối với việc mình đang làm, như xem nó đã tốt chưa, có gì sơ suất không, v.v. Học hỏi từ những người có kinh nghiệm cũng là giới vức của hết lòng. Người đã hết lòng thì không thể nhận lãnh công việc trái với lòng mình, chẳng hạn những công việc tự biết là ngoài khả năng của mình hoặc phi đạo đức. Đây là vấn đề trách nhiệm không thể thiếu trong các tổ chức xã hội. Việc sắp đặt đúng người đúng việc do đó cũng là vấn đề hết sức quan trọng và là trọng trách của người lãnh đạo. Vai trò người lãnh đạo như thế đòi hỏi có cả tài lẫn đức mà ở đây chúng ta có thể gọi là người lãnh đạo trọn đạo, vì họ có khả năng làm tròn sứ mệnh lãnh đạo và luôn luôn đặt trách nhiệm cao hơn mọi tư lợi cá nhân. Và người lãnh đạo như thế sẵn sàng sửa sai và có thể từ chức nếu tự thấy mình không còn khả năng lãnh đạo được nữa. Nhật Bản là một đất nước có nhiều tấm gương như thế. Theo tôi, đây là yếu tố chính khiến đất nước này trở thành một cường quốc mà thế giới phải khâm phục. Nói chung, nếu trong một tổ chức, càng nhiều người ý thức làm việc hết lòng thì tổ chức ấy càng tự điều tiết tốt đẹp và trở thành hưng thịnh.
Trong cuộc sống, đời cũng như đạo, làm việc hết lòng như thế là nền tảng của mọi sự thăng hoa đúng pháp. Người làm việc hết lòng có lối sống tự tin vì không có hối tiếc với lòng mình và đối với công việc thì hoàn tất một cách có ý thức. Người làm việc hết lòng thường được nhiều người mến thương và tin tưởng để giao phó công việc. Người làm việc hết lòng thường đón nhận nhiều niềm vui nhờ đã làm lợi lạc nhiều cho cộng đồng và xã hội. Người làm việc hết lòng dễ dàng được sự thông cảm từ người khác nếu làm sai (cũng như pháp luật các quốc gia đều ứng xử trên nguyên lý đạo đức này). Người làm việc hết lòng thường sống tận tụy với bổn phận của mình nên tâm tư đạt được nhiều nội trú và an lạc. Tùy theo mức độ hết lòng mà mỗi người có được sự thăng hoa khác nhau. Trên bản chất, tham ái và chấp thủ –những tâm lý chấp ngã– là cội nguồn làm chướng ngại cho sự hết lòng, vì khi còn nghĩ đến mình (cái ‘ngã’) người ta khó đạt được sự hết lòng trọn vẹn. Và ngược lại, làm việc hết lòng là để quên mình; và càng quên mình thì càng nhẹ cái ‘tôi’ của tham ái và chấp thủ. Nguyên lý ‘đẹp đời – trọn đạo’ không hai là vậy!
Hầu hết giáo lý Phật giáo đều nhằm gột tẩy lòng trần: tham, sân, chấp ngã. Cũng vậy, làm việc hết lòng là nỗ lực không chỉ vì mục đích công việc mà quan trọng hơn, là một tiến trình khai sáng tuệ giác từ chính khả năng của mỗi người. Hiểu lòng mình và cất bước chân từ năng lực của chính mình là những bước đi vững chãi đúng với con đường giải thoát mà đức Phật dẫn dắt.
Kinh Niết Bàn nói: “Người có lòng sẽ đạt được Vô thượng Bồ-đề.”[2] Hành trang giải thoát như thế nằm sẵn trong mỗi chúng ta và dường như đang hiển thị đâu đây và âm thầm đâu đó trong cõi lòng người con Phật có chánh tín!
Thích Tâm Hạnh
[1] Kinh điển PG Nguyên thủy cho chúng ta thấy rằng đức Phật là một nhà hùng biện vô song đối với hàng ngoại đạo nhưng Ngài lại là một bậc Đạo sư đầy từ mẫn đối với các chúng đệ tử của Ngài. Nói cách khác, đối với những ai chưa tin, Ngài làm cho tin; còn đối với những ai đã tin, Ngài mở ra con đường thực hành cho sự giác ngộ và giải thoát. Như vậy, Ngài không thể sử dụng cùng một bài pháp cho những thính chúng khác nhau được!
CÁO BẠCH LỄ TANG
Cư Sĩ Nguyễn Hà Minh, bút hiệu Liên Hoa, Pháp danh Thiện Pháp, Chủ biên Trang Nhà Liên Hoa
Đã từ trần tại tư gia Houston, Hoa Kỳ lúc 8.45 sáng ngày thứ ba, 28/2/2012, nhằm ngày 7-2-Nhâm Thìn, hưởng thọ 62 tuổi.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật
Kính bạch Chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni!
Kính thưa quý hàng thức giả, Phật tử, đọc giả, cộng tác viên, biên tập viên quý Tạp chí, quý Nội san, quý Trang nhà, mạng lưới Online!
Kính thưa thân bằng quyến thuộc, đạo hữu, Lam viên xa gần!
Hay tin từ Trang nhà chính thức http://lien-hoa.net/ và http://www.thuvienhoasen.org/ nơi anh miệt mài làm việc, công tâm sáng tác, nghiên cứu, biên soạn những áng văn chương, thi ca, Phật học cầm tay. Từ những thập niên vừa qua, Anh đã hết lòng phụng sự Tam bảo, truyền đạt lời vàng của Đức Phật cho nhân sinh. Ban Biên Tập http://www.vedepphatphap.com/ đã có nhiều năm tháng chung cùng một lý tưởng với Anh để thắp sáng, soi rọi nội tâm qua những tác phẩm có giá trị, ly biến, làm bao trái tim ngủ say, rảo bước vào đường trần, rồi quên lãng tín tâm bất thối chuyển ban đầu. “Tìm trăng giữa ban ngày, Tiếng nói mặt trời, xẻ gỗ tìm em…”
Ôi! Liên Hoa, một dấu mực còn in đậm trong sơn khê, trên non ngàn, giữa thinh không…chừ đến giờ Anh quảy bước lên non, về đỉnh núi…
Người về chốn tĩnh liêu
Cư nho mộ đạo - đời
Sỹ phu cầm trượng bút
Lái thuyền vượt sinh tử
Đò chiều bỗng cập bến
Chở người qua cơn mê
Hoa rừng sẵn trong túi
Sen vàng ngát hương thơm
Của chư Phật mười phương
Thiện duyên Anh trở lại
Pháp hành tiếp tục chơi
(Kinh Tâm)
Anh ơi! Người Cư sỹ tại gia làm chúng tôi kính cẩn vô cùng, bao lá thư tuyệt mật, sẻ chia Anh cũng đã trao gởi lại cõi bụi hồng, hư vô. Mới trong Tết, sau Rằm tháng tư năm ngoái 2011, Mạ tui mất mà Anh cũng thiết tha lặn lội, tay cầm tờ kinh chia buồn, làm tôi thán phục một ánh mắt vô biên, một tâm tình vô lượng. Đúng cách đây ba hôm, tập kỷ yếu tưởng niệm thân mẫu, tựa là ‘ Chén Trà Dâng Mẹ’ cũng vừa hoàn thành, đóng tập. Người đầu tiên tôi chuyển qua email để thưởng lãm là chính anh nhưng thấy anh bặt tin; tôi biết chắc có chuyện chi chẳng lành do trước đây cũng có biết được hơi thở anh hơi yếu và bàn tay chạm bàn số phím hết được, rung rung. Thế nhưng tôi chẳng chịu bỏ cuộc, để tin cho Anh biết công việc biên soạn của tôi cũng đang lên trang đây, vì thế chiều 28/02, chính là ngày sinh nhật cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn, tôi với vài huynh đệ tâm giao, mang trà, hương, hoa xuống tận mộ phần của người họ Trịnh để ngâm nga vài khúc đồng giao, thi phẩm, rồi bỗng giật mình…chiều xuống. Sau đó tôi cũng nhờ đến nguồn âm dương của Trịnh để chuyển tải đến anh bài ‘ Trái Tim Của Mặt Trời’ chính đôi tay Gỗ hoa của anh chấp bút để tặng riêng cho tôi đọc mà hôm Mạ của tôi mất ở quê nhà. Thật vui vui buồn buồn lộn lẫn cho kiếp phù sinh đến đi…như mây bay chẳng nên lời!
Nay:
Anh đã được BS. Cho biết trước chỉ còn có thể sống được từ 3 đến 6 tháng, nay sau gần một năm ở lại với gia đình, với bạn bè, với trần gian, anh đã từ giã cõi đời. Xin anh hãy thanh thản ra đi, thế gian này không có gì để lưu luyến và xin chân thành phân ưu cùng chị Diệu Tịnh, người bạn đạo và bạn đường thân thiết của anh cùng toàn thể tang quyến. Thành kính nguyện cầu: Hương Linh Thiện Pháp Nguyễn Hà Minh sớm tái sinh vào cõi giới an lành.
Xin tạc dạ: Bài thơ của thi văn nhân Liên Hoa,
Một cánh chim tung bay
bóng dáng mờ chân trời
bỏ trên đường thiên lý
từng bóng nắng lung linh
ta đi nhặt hạt nắng
về chép lại thành thơ
ướp vào tâm muôn thuở
lắng nghe tiếng mặt trời …
Sài Gòn đêm, 01/03/2012
Thành Tâm Tưởng Nhớ!
Thích Pháp Bảo, đề bút Kinh Tâm
Chủ nhiệm trang nhà Vẻ Đẹp Phật Pháp
http://lien-hoa.net/X%E1%BA%BB%20g%E1%BB%97%20t%C3%ACm%20em....pdf
Thu ngủ trong ước mơ …
http://lien-hoa.net/Thu%20ng%E1%BB%A7%20trong%20%C6%B0%E1%BB%9Bc%20m%C6%A1.pdf
Tiếng nói của mặt trời....http://www.vedepphatphap.com/2011/09/tieng-noi-cua-mat-troi.html
Mùi vị hương trà …
http://lien-hoa.net/M%C3%B9i%20v%E1%BB%8B%20h%C6%B0%C6%A1ng%20tr%C3%A0.pdf
THƯ KÊU GỌI ĐÓNG GÓP VĂN - THƠ - NHẠC ĐỂ CÚNG DƯỜNG:
http://www.vedepphatphap.com/2010/12/ky-niem-phat-thanh-ao-do-trang-nha-lien.html
Di chúc sinh tử của Người quá cố, tọa vị
Uy nghi là vẻ đẹp biểu hiện ra trong những tư thế, động tác, ngôn từ và cách tiếp xử của hành giả trong đời sống hằng ngày. Sống trong chánh niệm, từ từ ta có thêm chất liệu của sự vững chãi, thảnh thơi và an lạc. Uy nghi là dấu hiệu của sự có mặt của những chất liệu ấy. Có những chất liệu này, uy nghi mới thực sự là uy nghi, nếu không thì đó chỉ là những ngụy trang mà ta gọi là giả trang thiền tướng. Để thực tập các uy nghi này, ta cũng cần học hỏi và rèn luyện:
1 Sự ra đời và nét đẹp của chính nó
- Yếu tố tâm linh: Tuổi trẻ Đến với Đạo Phật nhằm trao dồi đạo đức, hiểu biết, tình thương. Thờ Phật như chúng ta đang thờ kính cha mẹ và hiếu thảo anh chị em, thương người và vật. Chúng ta còn có may mắn trở về bồi đắp gốc rễ của tổ tiên qua lời Phật dạy.
XƯNG TÁN BỤT
Phật bảo sáng vô cùng
Đã từng vô lượng kiếp thành công
Đoan nghiêm thiền tọa giữa non sông
Sáng rực đỉnh Linh Phong
Trên trán phóng hào quang rực rỡ
Chiếu soi sáu nẻo hôn mông
Long Hoa hội lớn nguyện tương phùng
Tiếp nối Pháp chánh tông
Xin quy y thường trú Phật đà gia!
XƯNG TÁN PHÁP
Pháp bảo đẹp vô cùng
Lời vàng do chính Bụt tuyên dương
Chư thiên trỗi nhạc tán hoa hương
Pháp mầu nhiệm tỏ tường
Ghi chép rõ ràng thành ba Tạng
Lưu truyền hậu thế mười phương
Chúng con nay thấy được con đường
Nguyện hết sức tuyên dương
Xin quy y thường trú Đạt ma gia!
XƯNG TÁN TĂNG
Tăng bảo quý vô cùng
Phước điền hạt tốt đã đơm bông
Ba y một bát bước thong dong
Giới định tuệ dung thông
An trú đêm ngày trong chánh niệm
Thiền cơ chứng đạt nên công
Chúng con tất cả nguyện một lòng
Trở lại với tăng thân
Xin quy y thường trú Tăng già gia!
- Yếu tố tâm hồn: Sự sống ra đời bằng ý thức tuệ giác và lòng trong sáng, tâm hồn là một thiết yếu của cuộc sống, nếu như tâm chúng ta bị tổn thương là lúc ta nên biết chăm sóc vết thương một cách cẩn trọng.
-Yếu tố cộng đồng: chân thiện mỹ có thể thực hiện được với những khi chúng ta có tấm lòng bao dung, tha thứ, hiểu nhau. Trong cộng đồng đang rất cần chúng ta nâng đỡ, dìu bước cho những ai đang thiếu chánh niệm và chưa tìm ra suối nguồn hạnh phúc. Cộng đồng lớn làm việc lớn, cộng đồng nhỏ làm việc nhỏ tùy theo thể lệ cho phép. Nên hạn chế lấn sân vào chốn đã có nhiều đoàn thể lo lắng, quan tâm. Đặc biệt chúng ta nên chú ý đến mầm sống, văn hóa dân tộc và Phật giáo.
2 . Tôn trọng và phát huy
- Giữ gìn bản sắc của người Phật tử.
NĂM PHÉP THỰC TẬP CHÁNH NIỆM
Kinh Người Áo Trắng dạy rằng nền tảng của nếp sống chánh niệm và hạnh phúc là Năm Phép Thực Tập Chánh Niệm. Cốt tủy của sự thực tập chánh niệm chính là Năm Giới quý báu này.
Giới thứ nhất: tôn trọng sự sống
Ý thức được những khổ đau do sự sát hại con gây ra, con xin học theo hạnh đại bi để bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài. Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán thành sự giết chóc và không để kẻ khác giết hại, dù là trong tâm tưởng hay trong cách sống hằng ngày của con.
Giới thứ hai: tôn trọng quyền tư hữu
Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cướp và bất công xã hội gây ra, con xin học theo hạnh đại từ để đem niềm vui sống và an lạc cho mọi người và mọi loài, để chia sẻ thì giờ, năng lực và tài vật của con với những kẻ đang thật sự thiếu thốn. Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra. Con nguyện tôn trọng quyền tư hữu của kẻ khác, nhưng cũng nguyện ngăn ngừa kẻ khác tích trữ và làm giàu một cách bất lương trên sự đau khổ của con người và của muôn loài.
Giới thứ ba: không tà dâm
Ý thức được những khổ đau do thói tà dâm gây ra, con xin học theo tinh thần trách nhiệm để giúp bảo vệ tiết hạnh và sự an toàn của mọi người và mọi gia đình trong xã hội. Con nguyện không ăn nằm với những người không phải là vợ hay chồng của con. Con ý thức được rằng những hành động bất chính sẽ gây ra những đau khổ cho kẻ khác và cho chính con. Con biết muốn bảo vệ hạnh phúc của mình và của kẻ khác thì phải biết tôn trọng những cam kết của mình và của kẻ khác. Con sẽ làm mọi cách có thể để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa.
Giới thứ tư: Lắng Nghe và Ái Ngữ
Ý thức được những khổ đau do lời nói thiếu chánh niệm gây ra, con xin học theo hạnh ái ngữ và lắng nghe để dâng tặng niềm vui cho người và làm vơi bớt khổ đau của người. Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hoặc khổ đau cho người, con nguyện chỉ nói những lời có thể gây thêm niềm tự tin, an vui và hy vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng sự hiểu biết và hòa giải. Con nguyện không nói những điều sai với sự thật, không nói những lời gây chia rẽ và căm thù. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án những điều con không biết chắc. Con nguyện không nói những điều có thể tạo nên sự bất hòa trong gia đình và đoàn thể, những điều có thể làm tan vỡ gia đình và đoàn thể.
Giới thứ năm: Chánh niệm trong Tiêu thụ
Ý thức được những khổ đau do việc sử dụng ma túy và độc tố gây ra, con xin học cách chuyển hóa thân tâm, xây dựng sức khỏe thân thể và tâm hồn bằng cách thực tập chánh niệm trong việc ăn uống và tiêu thụ. Con nguyện chỉ tiêu thụ những gì có thể đem lại an lạc cho thân tâm con, cho thân tâm gia đình và xã hội con. Con nguyện không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy, không ăn uống hoặc tiêu thụ những sản phẩm có độc tố, trong đó có một số sản phẩm truyền thanh, truyền hình, sách báo, phim ảnh và chuyện trò. Con biết rằng tàn hoại thân tâm bằng rượu và các độc tố ấy là phản bội tổ tiên, cha mẹ và cũng là phản bội các thế hệ tương lai. Con nguyện chuyển hóa bạo động, căm thù, sợ hãi và buồn giận bằng cách thực tập phép kiêng cữ cho con, cho gia đình con và cho xã hội. Con biết phép kiêng khem này rất thiết yếu để chuyển hóa tự thân, tâm thức cộng đồng và xã hội.
Giới thứ nhất là thực tập bảo vệ sự sống. Bởi vì tôi yêu sự sống, tôi thương mọi loài sinh vật, vì sự sống là vô cùng quý báu.
Giới thứ hai là thực tập hạnh bố thí. Nơi đâu cũng có nghèo khổ. Sự chênh lệch giàu nghèo gây nên rất nhiều đau khổ. Vì thế, chúng ta phải sống thế nào để giảm thiểu đau khổ.
Giới thứ ba là thực tập bảo vệ cá nhân và gia đình. Muốn có yêu thương phải có kính trọng. Không có kính trọng thì không thể có thương yêu chân thực.
Giới thứ tư là thực tập truyền thông. Lời nói có thể xây dựng hay tàn phá. Lời nói có chánh niệm có thể đem lại hạnh phúc. Một lời nói nếu đem lại bình an, hạnh phúc là một món quà quý giá nhất mà ta có thể trao tặng.
Giới thứ năm là để bảo vệ thân tâm ta, tránh phản bội tổ tiên và thế hệ tương lai. Đây có thể được xem là một sự cam kết khó thực hiện.
Năm Giới Quý Báu không phải là năm điều cấm đoán mà là năm lời phát nguyện sau khi ta quán chiếu về khổ đau và nguyên nhân của khổ đau. Không ai có thể thực tập Năm Giới Quý Báu một cách hoàn hảo. Năm Giới Quý Báu được ví như sao Bắc Đẩu. Khi chúng ta lạc lối, chúng ta nhằm hướng sao Bắc Đẩu để tìm đường ra chứ không phải lên trên sao Bắc Đẩu.
Luôn hướng thiện: Biết rằng cuộc đời là có nhiều khó khăn, khổ nhọc, tâm tư, tình cảm thường hay thay đổi. Do biến đổi thời gian, tính ích kỷ, không chân thành nên con người thường hay có thói quen nhìn lỗi người khác và thiếu chấp nhận hạnh lắng nghe. Muốn xây dựng được nền tảng luân thường đạo lý, chúng ta cần thực tập lòng từ bi, chia sẻ hoàn cảnh bằng cả trái tim của người con Phật.
3. Sử dụng thi kệ:
- MẶC ÁO
Mặc áo trong tích môn
Trang nghiêm y chánh báo
Tịnh độ trong tầm tay
Nước non cùng sáng tạo.
MẶC ÁO UY NGHI
Mang áo của người tu
Tâm tư thường khỏe nhẹ
Nguyện sống đời thảnh thơi
Đem vui cho trần thế.
CHẮP TAY CHÀO
Sen búp xin tặng người
Một vị Bụt tương lai.
-Ý nghĩa nuôi dưỡng thân tâm và tính ứng dụng Phật pháp vào cuộc sống: Trong muôn một thâm sâu của hướng đi Diễn Đàn Vẻ Đẹp Phật Pháp là cho thân tâm hòa điệu, bình an. Làm không gian quay về nương tựa Tam bảo, cho tuổi trẻ có thêm lý tưởng hạnh phúc, niềm tin với cuộc sống. Trở nên mái nhà học Phật, đem lời Phật dạy áp dụng vào xã hội, gia đình, học đường thành những phương châm sống cao đẹp.
Phụ lục:
Tuổi trẻ Phật giáo đã có đường đi:
Nội Quy đến với Thiền đường và tham gia Diễn đàn Vẻ Đẹp Phật Pháp.
- Vào ngày chủ nhật...
-Là người trẻ, có ý thức, nhận thức, tu tập...
- Có đời sống lễ nghi, văn hóa, phụng sự...
- Được sự giáo dưỡng bảo hộ của người thân...
- Có chánh tín với Tam bảo...
+ Chia đủ thời gian để cùng nhau tham gia tu học....
+ Có tâm học hỏi, chí nguyện giúp đời....
+ Không kỳ thị, mất bình đẳng và không phân chia thành nhóm....
+Biết lắng nghe và đóng góp những lợi ích chung....
* Trở thành thành viên chính của VĐPP....
* Biết thăm hỏi, động viên tinh thần khi ai đó đang gặp khó khăn....
* Tìm cách, phương hướng xây dựng cho GĐ vững chãi, tiến bộ....
*San sẻ nếp sống, thực hành Phật học cho mọi người...
= Áo tràng dành khi đi đến nơi có cộng đồng phật giáo...
= Áo Uy nghi dành riêng cho đoàn thể VĐPP sinh hoạt và những nhu cầu cần thiết...
= Giữ im lặng chánh niệm trước giờ thực tập, tu niệm...
=Chấp tác làm đẹp môi trường....
/ Nên trân trọng và tôn kính lẫn nhau...
/Nên giữ gìn bổn phận mình là người cư sĩ tại gia...
/Nên biết tích lũy ngân khoản để làm việc có ích....
/ Nên có những công tác từ thiện, phóng sanh, cúng dường....
) Ý chí, giữ vững niềm tin....
) Cần bảo hộ quan điểm của VĐPP...
) Chia sẻ và khuyến cáo những bất hại và thiệt thòi đến với VĐPP....
) Cần ngăn ngừa những tâm ý bất thiện, lôi kéo, làm ảnh hưởng VĐPP...
& VĐPP mở khóa tu và sự kiện, hành hương....
& VĐPP giao lưu, cộng sự với các nhóm, CLB, đoàn thể xã hội lành mạnh
& VĐPP làm Thị giả tốt...
& VĐPP thành công về mọi mặt văn hóa, giáo dục, từ thiện, tu học, tình huynh đệ....
Đến với Thư Viện Cổ Pháp (TVCP) – Vẻ Đẹp Phật Pháp (VĐPP):
Chiếc áo đồng phục của gia đình Vẻ Đẹp Phật Pháp đã thành tựu trong niềm hân hoan của tất cả các thành viên. Chiếc áo là hiện thân của sự uy nghi, và thanh tịnh, Học chúng vô cùng hạnh phúc khi được khoác lên người chiếc áo cao quí của Đạo Pháp, sẽ che chở cho chúng con giữa biển đời khổ đau, để các anh chị em chúng con cùng nhau đi đến bến bờ chân hạnh phúc!
Với khả năng kiến thiết và tính thể nhập của một tổ chức thu nhỏ trước tiên là nói lên được tinh thần hài hòa vị tha. Xây dựng một hướng đi trong lòng cuộc đời như rác và hoa không thể thiếu đi một thứ cũng như tình thương và trí tuệ vậy. Chính vì thế Vẻ Đẹp luôn là nét tiềm ẩn mầu nhiệm trong Phật Pháp. Con đường hướng thượng, ước mơ, nụ cười, bảo vệ hành tinh là những thước đo mà tâm hồn con người cần phải nâng niu sự sống và có mặt chân thành với những suy nghĩ thanh cao. Đó là mang thông điệp hòa bình, yêu thương, bao dung vào với mọi loài sống cùng trên một không gian mà ở nơi đó đang thực tập về sự giác ngộ, về sự tuệ giác, về lòng nhân ái, về sự trân quý thời gian.
Cách thức mặc Áo Uy Nghi Vẻ Đẹp Phật Pháp
Với các hướng dẫn sau.
1. Đặt chiếc áo trên đôi tay sau đó đọc bài kệ.
Đẹp thay áo giải thoát
Áo Uy Nghi nhiệm màu
Con cúi đầu tiếp nhận
Đời đời nguyện mang theo (ba lần)
2. Các điều kiện để khi thọ nhận Áo Uy Nghi:
-Áo dành cho thành viên sinh hoạt thường kỳ (được mang về nhà )
-Áo dành cho thành viên thỉnh thoảng sinh hoạt ( để lại tại Trung tâm - có trường hợp đặc biệt)
- Áo mặc với quần tây xanh, gam màu trắng, đen, cà phê ( không mặt với quần Jin)
- Áo Uy nghi là giới thân, nên có một chiếc áo mỏng, mi zô cách thân trước.
3. Giữ gìn chăm sóc Áo Uy nghi
- Áo Giặt riêng, treo nơi thanh tịnh sạch sẻ
- Áo mang khi có dịp lễ nghi, tu tập, làm thị giả ( hạn chế mang đi một mình)
- Áo là thành phẩm đặc biệt của VĐPP nên không để mẫu Áo Uy Nghi đưa người ngoài khác mượn mẫu.
- Áo mặc vào, gặp nhau, nên chắp tay xá chào nhau.
4. Đọc tụng năm giới hàng tuần - ngồi thiền - ái ngữ, chánh niệm.
- Là ban viên của VĐPP nên tham gia đăng bài, học bài của Thầy giáo thọ tại Trang nhà quy định.
- Là ban viên của VĐPP nên tôn trọng, lễ nghi với người có giới hạnh, đàn anh chị chuẩn mực, có thâm niên hiểu hành đúng chánh pháp.
- Là ban viên của VĐPP nên biết san sẻ tình thương, nâng đỡ, giúp nhau vượt qua khó khăn.
-Là ban viên của VĐPP nên phụng sự mà không mang tâm mưu cầu lợi ích riêng, có cái gì hay nên trao đổi thân thiện, cần lắng nghe những lời chia sẻ khuyến tấn .

