Một triết gia Tây phương đã nói rằng“Chẳng có con đường nào dẫn đến hạnh phúc. Hạnh phúc chính là con đường”, xem ra hai chữ hạnh phúc quả thật khó cắt nghĩa.

Khoảng 23 thế kỷ trước, nhà bác học Aristotle nói rằng hạnh phúc là một cái gì đó rất quan trọng mà cuối cùng nhiều người phải chọn lựa, hay nói một cách khác, khi ta có nhiều thứ trên đời mà thiếu hạnh phúc thì cuộc đời cũng vô nghĩa.

Như nhà thơ Xuân Diệu đã từng không giải thích nổi hai chữ tình yêu (Làm sao cắt nghĩa được tình yêu), hạnh phúc cũng như vậy, một loại danh từ trừu tượng ta chỉ cảm nhận mà thôi. Trong Phúc Lộc Thọ, hạnh phúc (Phúc) khác với tiền tài (Lộc) và sống lâu (Thọ) ở chỗ không thể thấy hoặc đo đếm được.

Hạnh phúc quả thật khó cắt nghĩa. Hạnh phúc khi ẩn khi hiện, khi có khi không, chỉ do chính mình tự cảm nhận. Khi gặp một người giàu có, ta nói người ấy hạnh phúc quá, thì chưa chắc đã đúng. Khi thấy một cặp vợ chồng nghèo làm lụng vất vả nuôi con, ta cảm thương họ bất hạnh hẳn rất sai. Vì nếu có dịp nói chuyện với đôi vợ chồng nghèo này chưa chắc ta đã nghe những lời than van như người giàu có kia.

Các chuyên gia tâm lý cho rằng, người không có hạnh phúc là người luôn chú trọng đến mình, không chấp nhận ý kiến người khác. Ngược lại, người hạnh phúc là người luôn hòa đồng và lắng nghe ý kiến của mọi người xung quanh.

Người Việt mình khi gặp điều may mắn hay dùng hai tiếng “trời cho”, nhưng theo Đức Dalai Lama trong cuốn Nghệ thuật hạnh phúc thì hạnh phúc tự ta có thể tìm được bằng cách điều khiển ý nghĩ trong đầu mình. Nếu nghĩ mình đã có hạnh phúc tức là mình đã có hạnh phúc.

Người Phật tử thường hay chúc nhau “Thân tâm thường an lạc”, tức là chúc nhau sự bình an, chứ không chúc nhau nhiều tiền bạc của cải. Khi ta có đủ cơm no áo ấm, có nhà cửa che mưa che nắng, thân không tật bệnh, tâm không phiền não là ta đã có đủ cái căn bản của hạnh phúc. Một trong những điều làm ta mất hạnh phúc là đem so sánh những gì mình có với những gì người khác có hơn mình. Điều đó khiến ta không cảm thấy bằng lòng với hiện tại mà cứ chạy theo mệt nhoài vì đuổi bắt cho kịp người khác trong trào lưu văn minh vật chất và nhu cầu được hưởng thụ cao. Không ít gia đình lẽ ra họ xứng đáng được hạnh phúc nhưng lại tự đánh mất hạnh phúc vì cứ so sánh những gì người khác có. Vậy nên ta hãy cảm thấy hạnh phúc với những gì mình có và tự nhủ rằng, người ở nhà to và đi xe đẹp có trăm thứ phải lo nên chắc gì đã hạnh phúc, nghĩ được như vậy ta sẽ thấy nhẹ nhàng hơn rất nhiều.

Sống là phải có ước mơ, nhưng ước mơ thì vô tận, không giới hạn và không có điểm dừng. Ước mơ làm thăng hoa cuộc sống nhưng những cái ước muốn quá sức, không chính đáng sẽ làm mất hạnh phúc.

Và cũng thật mâu thuẫn, một trong những điều làm cho ta hạnh phúc cũng là so sánh. Đã có lúc ta bực mình và nóng nảy khi trên đường bị kẹt xe vì có một vụ tai nạn. Nhưng chợt nghĩ, ta vẫn còn may mắn và hạnh phúc hơn người bị tai nạn đang nằm trên xe cứu thương kia. Sự so sánh đó làm cho nỗi bực bội tan biến trong khoảnh khắc.

20040325210105483120rw.jpg

Khi ta nhìn thấy hình ảnh những nạn nhân bão lụt trên những thước phim thời sự, ta sẽ thấy trời Phật giúp ta nhiều quá, ta đã có quá nhiều hạnh phúc còn mong muốn gì hơn nữa. Quả đúng như câu nói: “Nhìn lên thì chẳng bằng ai, nhìn xuống thì chẳng ai bằng mình”. Đó là quan điểm sống hạnh phúc giúp người ta an nhiên tự tại hơn.

Đức Dalai Lama trong cuốn Nghệ thuật hạnh phúc đã cho chúng ta một thông điệp về hạnh phúc: “Chúng ta không cần thêm tiền, chúng ta không cần thành công hơn nữa, chúng ta không cần có một thân hình hoàn hảo, và ngay chúng ta cũng không cần một người bạn đường hoàn hảo”. Điều ấy cho thấy tiền bạc của cải và những ham muốn ở thế gian không phải là yếu tố duy nhất làm nên hạnh phúc. Thông điệp ấy chứa đựng một triết lý Đông phương rất thâm sâu về chuyển hóa tham, sân, si của đạo Phật.

Phương Đông và phương Tây có nhiều quan niệm không giống nhau nhưng quan niệm về hạnh phúc thì đã gặp nhau ở một điểm. Đó là hạnh phúc là cái gì quý nhất trên trên đời, “là cái đích cuối cùng mà con người mong muốn” (Aristotle).

Người phương Tây chơi chữ bằng một câu: “Present is present”, có nghĩa là “hiện tại là quà tặng”, hay có thể nói hãy an hưởng những gì mình đang có bây giờ. Đạo Phật cũng có pháp môn tu “Hiện pháp lạc trú”. Một bước chân là ta đặt một dấu ấn hạnh phúc, hạnh phúc trong từng bước chân của ta trong giây phút hiện tại, không vấn vương quá khứ và lo nghĩ tương lai.

Không có cái vui nào trên đời mà hoàn hảo cả, nên hãy từ tốn đón nhận và thưởng thức. Không có cái buồn hay bất hạnh nào là miên viễn cả, nên chẳng vội bi quan. Nếu ta cho đó là chuyện bình thường trong cuộc sống rồi nó sẽ qua đi, như các cụ đã dạy: “Sông có khúc, người có lúc”.

Hạnh phúc quả là một cảm giác chủ quan tự mình chế tác khi gặp những sự kiện tác động trực tiếp đến với mình. Hạnh phúc là tất cả những thần dược của cuộc sống. Sự sung sướng, niềm đau khổ, giọt nước mắt, những nụ cười..., là những chất liệu để mang thêm cho mình lòng yêu thương, vị tha đến với gia đình và mọi người sống xung quanh.

Ta đang bước những bước chân an lạc hạnh phúc trên con đường hạnh phúc an lạc.

Lê Đàn

tìm hiểu thêm bài:

Vì sao em buồn?

http://www.giacngo.vn/phatgiaotuoitre/2012/01/26/334659/

ĐẾN MỘT LÚC ...
Chúng ta cảm nhận những khoảnh khắc tĩnh lặng nhỏ bé của tâm hồn còn quý giá hơn cả những tài sản được cất chứa chung quanh là lúc chúng ta định lượng được giá trị chân thật của một kiếp người. ..
denmotluc
denmotluc
denmotluc
denmotluc
denmotluc
denmotluc
denmotluc
denmotluc
denmotluc
denmotluc
denmotluc
denmotluc
denmotluc
denmotluc
denmotluc
denmotluc
denmotluc
denmotluc
denmotluc
denmotluc
denmotluc
denmotluc
denmotluc
denmotluc
denmotluc
denmotluc
denmotluc
Nhân dịp đầu năm mới 2012 con kính chúc Ôn pháp thể khinh an, đạo hành tuyệt nhiên.
Dạ , hôm qua, giao thời 1/1 đại chúng tp HCM đã thưởng thức một đêm văn nghệ, thơ của Ôn tại Chùa Từ Quang rất khí thế và sâu lắng. Những bài thơ Ôn mới phỏng tác tại Miến Điện nay cũng được cống hiến đến từng trái tim tại SG.

Vầng thơ, các tác phẩm thơ của ôn, hầu như các nghệ sỹ lúc ngâm ai cũng xúc động và tha thiết. Hỏi Ôn bây chừ ở mô, để có dịp hầu thăm Ôn, xin Ôn cho phép các nghệ sỹ được diễn ngâm, bất kỳ ở trung tâm văn hóa nào.

Đầu năm, có vài chuyện vui vậy đó Ôn ạ, Thầy Giác Thiện cũng vui và hạnh phúc lắm, khi có 1 đêm thơ XUÂN VÀ THI CA diễn ra tại Chùa Từ Quang.
Nhân đây, Ban chủ nhiệm thân chúc quý vị Thị Giả, Biên tập viên, học chúng Thư Viện Cổ Pháp, một năm mới nhiều an lạc và tay buông ráng hồng trên mọi lĩnh vực, sự nghiệp.

( Hình Thuy Pham cung cấp)

chú tiểu

Trong kinh Pháp Hoa, khi tụng đến phẩm thứ hai mươi ba, ít có hành giả nào ngăn được xúc động và ngưỡng phục trước sự cúng dường của ngài Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ,  lên Thầy của mình là Đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức.

Phẩm thứ hai mươi ba trong kinh Pháp Hoa là phẩm mang tên Dược Vương Bồ Tát Bản Sự.

Vâng, đó chính là phẩm nói về Bồ Tát Dược Vương. Ngài có tên là Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ vì Ngài luôn hiển lộ sự hoan hỷ, chẳng phải chỉ ở nét mặt, mà còn từ mọi cử chỉ, lời nói, khiến ai thấy ngài cũng được vui lây niềm an lạc. Ngài có duyên lành lớn, được Đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức nhận làm đệ tử và nghiêm minh truyền dạy Phật pháp.

Không phụ lòng sư phụ, ngài tinh chuyên miên mật học hỏi, hành trì và đạt được Tam Muội Hiện Nhất Thiết Sắc Thân, nghĩa là, ngài có thể tùy duyên hóa độ, nương nơi đối tượng cần độ, đáng độ, mà hóa hiện sắc thân tương ứng.

Khi chứng được tam muội này, tức thời ngài liễu ngộ rằng, ngay xác thân ngài đang mang cũng chỉ là hóa thân của chính ngài, ở một tiền kiếp nào đó. Điều này cũng nói lên điểm căn bản trong giáo pháp, là dẫu vòng sinh tử vẫn xoay đều, nhục thân sanh rồi diệt vẫn không làm ô nhiễm tới chân thân, là cái bất sanh bất diệt thường hằng, là Phật tánh vô thỉ vô chung của mọi loài.

Thực chứng điều này, ngài hốt nhiên được giải thoát hoàn toàn khỏi vướng mắc và sợ hãi. Ngài đã hoan hỷ, an nhiên tẩm các loại hương thơm lên mình rồi dõng mãnh châm lửa tự thiêu, cúng dường Đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức để tạ ơn sư phụ.

Là con Phật, tất chúng ta cùng hiểu rằng Dược Vương Bồ Tát tự thiêu không phải là cúng dường tấm thân tứ đại mà là cúng dường sự giác ngộ siêu việt, vượt lên trên hết thảy mọi ràng buộc của đời-thường. Chính vì sự chứng đắc vẹn toàn này mà ngọn lửa trên nhục thân ngài cũng không phải là lửa thế gian. Đó là lửa tam muội, là Tâm Nhiệt, có thể chiếu sáng mười phương, mang trí tuệ tới nơi ngu si, mang hiền hòa tới nơi ác độc.

Theo kinh dạy, khi ngọn lửa vừa tắt trên nhục thân Dược Vương Bồ Tát, ngài lập tức tái sanh, làm Thái Tử ngay nơi quốc gia đó để có cơ duyên gặp lại  Đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức, trước khi Đức Phật nhập diệt.

Lửa tam muội tuy có phần hữu hình nhưng mang sức mạnh vô hình. Sức mạnh này vượt lên trên mọi đắn đo, hý luận để hướng tới huệ tâm tối thượng là cứu độ sự khổ đau. Chẳng thế, trong quá khứ, Đức Phật cũng đã từng nhập pháp tam muội này, phát lửa từ thân Phật mà hàng phục loài rồng độc hại.

Xuyên suốt hằng hà sa kiếp, trải dài mọi thời quá khứ, hiện tại, vị lai, có thời nào mà chúng sanh không thảng hoặc được thấy ánh lửa tam muội bùng lên, vì thời nào mà chẳng có khổ đau, uất hận!

Chỉ nhìn thời nay thôi, và gần đây nhất thôi, ngọn lửa ấy đã rực rỡ trên thân một vị sư Tây Tạng, mới 29 tuổi. Sư Tsewang Norbu ngụ trong một ngôi chùa thuộc khu Tự Trị Tây Tạng, tỉnh Sichuan. Vào một ngày thứ hai, trung tuần tháng tám/2011 vị sư trẻ đã âm thầm chọn cho mình một ngôn ngữ bi tráng để nói lên điều muốn nói. Ngôn ngữ đó là dùng lửa tam muội để truyền đạt âm thanh cho một dân tộc liên tục bị Trung Quốc săn đuổi và đàn áp. Với lửa hồng phừng phừng quanh thân, sư Tsewang Norbu đã trải rộng tấm lòng với đạo pháp và dân tộc bằng những lời cuối cùng: “Đức Đạt Lai Lạt Ma muôn năm! Người Tây Tạng muốn tự do! Trung Quốc hãy ngưng đàn áp tôn giáo!”

Ngay khi được tin sự việc, chính quyền Trung Quốc đã huy động trên một ngàn công an và binh lính tới bao vây ngôi chùa nhỏ nơi nhà sư vừa tự thiêu. Điện nước lập tức bị cắt và mọi nguồn tiếp tế lương thực bị ngăn chặn! Hơn một ngàn kẻ có quyền uy và vũ khí đến bao vây một nơi chỉ có chuông mõ và những người tu hành đã đủ nói lên điều gì???

Sức mạnh của quyền uy và vũ khí luôn run sợ trước sức mạnh tâm linh. Điều này hiển nhiên, vì khi đã có sức mạnh tâm linh thì không gì, và không ai cướp đi được. Sự dọa nạt chỉ là ấu trĩ, nhưng nó vẫn xảy ra, bởi sự vô minh gắn liền với kiếp sống!

Sự kiện bi tráng vừa xảy ra với Phật giáo Tây Tạng, ngẫu nhiên lại trùng thời điểm tu viện Bát Nhã tại tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam, bị đàn áp khốc liệt, cách đây hai năm. Cũng dọa nạt, cũng cắt điện nước, chặn mọi sự tiếp tế lương thực. Rồi, mọi hình thức khủng bố đó tăng dần tới đánh đập tăng ni, đốt am, đốt kinh sách, ném phân, và cuối cùng là cầm dao gậy, quyết liệt rượt đuổi toàn bộ gần bốn trăm tăng ni sinh ra khỏi tu viện dưới cơn mưa tầm tã trong đêm tối, ngày 27 tháng 9 năm 2009!

Chỉ đôi điều hơi khác, là các nhà sư Tây Tạng bị Trung Quốc ngoại xâm đánh đuổi, còn các nhà sư Việt Nam, ở tại đất nước Việt Nam thì bị chính quyền, cũng người Việt Nam, đánh đuổi. Vì bị ngoại xâm cưỡng chiếm và cai trị nên dân Tây Tạng – nói chung – và các nhà sư Tây Tạng – nói riêng – phải lên tiếng đòi hỏi tự do, tự trị.

Còn các nhà sư tại tu viện Bát Nhã là người Việt Nam, đang ở nước Việt Nam, nơi có một chính quyền Việt Nam luôn đề cao khấu hiệu “Tự Do, Độc Lập, Hạnh Phúc”, nên chỉ xin được tu!

Tiếc thay, đôi điều khác đó đã chẳng làm khác đi hệ lụy mà các nhà sư Tây Tạng và Việt Nam phải chịu, vì sự nham hiểm đều có chung một ngôn ngữ, một phương thức hành xử!

Để lưu dấu hai năm về sự kiện Bát Nhã, một sự kiện mà từ đấy đã tự hiển lộ những gì cực đẹp cũng như cực xấu, nhà báo Lê Nguyên, chủ biên trang nhà Phù Sa vừa hoàn tất một cuốn sách nặng ký, với chín trăm trang dầy đặc bài vở  và hình ảnh trung thực về biến cố Bát Nhã. Cuốn sách mang tên “Bát Nhã Là Một Công Án Thiền”.

Đây là một công trình sưu tập tài liệu đầy đủ nhất trong suốt quá trình của sự việc, nhưng với tựa sách: “Bát Nhã Là Một Công Án Thiền”, dường như người thực hiện có ẩn ý gì chăng?

Khi Thiền-sư Bạch Ẩn đưa một bàn tay lên và bảo các thiền sinh đang chăm chú nhìn ngài: “Hãy lắng nghe tiếng vỗ từ một bàn tay!” thì tất cả thiền sinh hiện diện đều ngẩn ngơ, vì trong tâm phân biệt đã lập tức khởi niệm “Chỉ có một bàn tay, làm sao tạo ra âm thanh tiếng vỗ? Vậy, âm thanh nào là tiếng vỗ của một bàn tay?”

Chính từ dấu hỏi này mà câu nói của thiền sư trở thành công án, vì công án, nếu hiểu theo nghĩa đơn giản, chỉ do vị thầy muốn dẫn đạo đệ tử đặt trọng tâm quán sát vào điều gì thì thầy đặt ra đề án về điều đó để khai ngộ thiền-lý cho trò. Khi thiền sinh quán chiếu về công án mà thầy đặt ra – danh từ nhà thiền gọi là tham công án – thì thiền sinh chẳng phải chỉ trong một tư thế tọa thiền tĩnh lặng, gom thân, tâm, ý, về một mối mà còn phải sống, chết, ăn, ngủ, với công án đó bằng trọn từng đốt xương, từng lỗ chân lông trên thân tứ đại, may ra mới tới lúc thấy được “ánh sáng cuối đường hầm!”

Nhưng với sự kiện Bát Nhã thì có lẽ không cần khó nhọc thế mới hiểu được. Từng trang, trong tập sách chín trăm trang, mỗi trang dường như đều là một câu hỏi và đồng thời có ngay câu trả lời. Câu hỏi ở đây là câu hỏi của lương tâm, của nhân cách, của tình người; còn câu trả lời là của tham sân si, uế trược.

Vậy, dùng từ “công án” cho sự kiện Bát Nhã, phải chăng chỉ là dụng ý tương phản của người thực hiện, muốn gửi tới những ai còn xót xa quan tâm đến Bát Nhã. Thông điệp thầm lặng đó, phải chăng là “Bạn ơi, hãy mỉm cười đi! Đừng băn khoăn, đừng bứt xúc, đừng bất nhẫn nữa, vì mọi sự đều tự nó ở ngoài ánh sáng cả rồi mà!”

Theo tinh thần kinh Kim Cang mà Đức Thế Tôn chỉ dạy cho ngài Tu Bồ Đề thì ở công án này, có lẽ người thực hiện muốn diễn tả điều dị thường, là: “Nói Bát Nhã không là một công án, mới thực Bát Nhã là công án!”

Ngẫm xa, theo thiền-ý thì có vẻ mênh mông, nhưng ngẫm gần, qua sự việc thì vô cùng đơn giản. Xin cám ơn nhà báo Lê Nguyên đã hoàn tất cái công án dài nhất trong lịch sử công án! Vì công án này không chỉ ở tựa cuốn sách, mà ở từng trang, ở từng sự kiện. Không những thế, công án này còn đưa ra một cái nhìn mới mẻ về phút giây trọng đại của thiền sinh khi chợt ngộ sau thời gian khổ nhọc tham công án. Thông thường, đó là phút giây “Thấy cái đi tìm lại là cái thật gần”.

Nhưng ở đây, cái mà những ai còn quan tâm tới Bát Nhã, muốn đi tìm, thì sẽ chẳng phải chỉ thấy những cái thật gần, là tinh thần Bát Nhã vẫn còn nguyên vẹn ở Lâm Đồng, ở tình người Hiểu và Thương khắp ba miền Trung Nam Bắc, ở những bữa cơm chánh niệm trong bao gia đình, mà còn thấy những cái thật xa.

Đúng vậy, Bát Nhã đã, và đang đi xa lắm! Bát Nhã đã có mặt khắp hoàn cầu, trong trái tim thế giới. Sự có mặt không phải chỉ nơi Tích Môn, mà còn ở Bản Môn. Bạn có thầm hỏi, tại sao tinh thần Bát Nhã lại ở tới Bản Môn không?

Thưa, vì hình ảnh toàn thể gần bốn trăm tăng ni sinh vẫn lặng thinh thiền tọa trước súng đạn, gươm đao của bạo quyền, vì bị rượt đuổi, xô đẩy dã man vẫn bình tĩnh nương nhau đi trong mưa, vì bị bỏ đói bỏ khát vẫn niệm Quan Thế Âm xin chuyển hóa vô minh cho những kẻ tạo nghiệp … vì biết bao, biết bao thể hiện sự vô úy, từ bi, nhẫn nhục, đã là lời chứng thực, xác quyết nhất, về giá trị tối thượng của một giáo pháp có tên gọi là ĐẠO PHẬT.

Huệ Trân

(Tào-Khê tịnh thất, tháng 9/2011)

Bát Nhã Là Một Công Án Thiền

Lời người kết tập: Sách do Lê Nguyên kết tập, Phù Sa ấn hành, bìa cứng, in tại Đức quốc lần đầu 1000 quyển. Sách dầy 900 trang gồm 166 bài viết và tài liệu, cùng rất nhiều hình ảnh thời sự. Đây là tập sử liệu chính thức (officiel) giải trình đầy đủ sự kiện Pháp Nạn Tu Viện Bát Nhã ở thôn Đamb'ri, thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam từ tháng Bảy năm 2008 đến tháng Chạp năm 2009.

Hình bìa trước và bìa sau của ấn bản Âu châu.

Được gọi là sử liệu, vì nó được kết tập một cách khách quan bằng những trang tài liệu chính thức của các bên liên hệ ; Bằng những trang báo, trang tin khách quan của các hãng thông tấn, báo, đài quốc tế ; Bằng những bài viết và bút tích của mọi thành phần khách quan, cũng như các bên liên hệ ; Bằng sự rung động của con tim và lý lẽ của những con người bằng xương bằng thịt... Là chứng nhân cho một giai đoạn lịch sử của Phật giáo Việt Nam và thế giới. Sách phơi bày tất cả những bộ mặt thật của Chính quyền, Đảng quyền, và Giáo quyền. Song song, BÁT NHÃ LÀ MỘT CÔNG ÁN THIỀN còn là một minh chứng bằng xương bằng thịt của hơn 400 con người cho những giá trị cao thượng về Hiểu biết, Thương yêu, Không sợ hãi ; về Bốn tâm Vô lượng ; về Tuệ giác Vô thượng Bồ đề của các bậc Chân sư, v.v... mà ta cứ ngỡ rằng chúng chỉ có trong kinh sách mà thôi.

Bìa trước và sau quyển 1 (ấn bản Hoa Kỳ)

Phù Sa Info, Người kết tập, cùng các Cộng tác viên rất hạnh phúc hiến tặng công đức này tới tất cả mọi người. Dù bạn đang ở bất cứ nơi đâu trong thế giới này, nếu bạn muốn có một hay nhiều quyển sách này xin gửi cho chúng tôi ấn phí là 20€ + phí bưu điện là đủ. Đặc biệt, các tác giả, các cơ quan truyền thông[1] có bài trong sách này chỉ cần gửi phí bưu điện mà thôi. Chú ý: Những điều kiện này chỉ được áp dụng cho ấn bản Âu châu. Mời các bạn liên lạc với chúng tôi qua địa chỉ E-mail duy nhứt là:Ed.phusa@gmail.com

Bìa trước và sau quyển 2 (ấn bản Hoa Kỳ)

* * *

Ngoài ấn bản Âu châu, chúng tôi cũng vừa hoàn tất ấn bản Hoa Kỳ có cùng nội dung, hình ảnh với ấn bản Âu châu, chỉ khác về cách trình bày bìa, và đóng thành hai quyển. Sách đang được phổ biến trực tiếp tại tu viện Lộc Uyển - (Deerpark Monastery) - 2499 Melru Lane, Escondido - CA 92026 - USA - Điện thoại: + (1) 760 291 1003 hay + (1) 760 291 1028 - Fax: + (1) 760 291 1172 - E-mail: deerpark@dpmail.net. Dưới đây là hình bìa (điện tử) của ấn bản này:

Lê Nguyên

-----------------

[1] Tác giả có bài trong sách này : Thiền sư Nhất Hạnh – Thích Chân Pháp Khâm - Thích Chân Trung Hải – Thích Nữ Chân Thoại Nghiêm - Thích Nữ Chân Phúc Nghiêm - Nhà báo Linh Toàn - Giáo viên Đào Thị Ngọc Trâm - một Phật tử địa phương - Phật tử TP. HCM. - Nhà thơ Hoàng Hưng, cùng 434 nhân sĩ trí thức trong và ngoài nước - Ký giả Không Tên - Chung (Xuân-Lộc) - Phóng viên Uyên Thảo - Tập thể Tăng Ni và Phật tử TP Đà Lạt  - Nhà văn Huệ Trân - Sư chú Pháp Xa - Thanh niên, Sinh viên, Học sinh Phật tử Sài Gòn - Cát Tường (xóm Bếp Lửa Hồng) - Phật tử Tâm Diệu Chung - Nguyên Chơn - Sa Môn Thích Đồng Nhẫn - Nhà văn Phan Quân - Phóng viên Hà Giang - Ts. Nguyễn Hồng Dũng - TDTCSM - Ký giả Ben Stocking (AP) - Một tu sinh BN tị nạn tại chùa Phước Huệ - Nguyễn Phước Song Thân - Chân Điều Nghiêm & Chân Áo Nghiêm - Tập sự nữ Tâm Thường - Thượng tọa Thích Thanh Thắng - Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn - Bình luận gia Ngô Nhân Dụng - Tỳ kheo Thích Thanh Quang cùng tập thể tăng ni trẻ tỉnh Lâm Đồng - Phóng viên Thanh Trúc - Cựu thiếu tướng Trần Khắc Lợi - Chu Văn - Một sư cô xóm Mây Đầu Núi - Sư chú Chân Pháp - Sư em của Tăng thân - Minh Thi, tập sự nữ xóm Mây Đầu Núi - Tăng thân Bát Nhã - Thường Quán, đại diện tập thể tu sĩ các đạo tràng cả nước - Nhóm Phật tử trẻ - Nguyễn Đắc Xuân, đảng viên kỳ cựu đảng CSVN, kiêm nhà văn, nhà báo - Phật tử Diệu Tâm - Linh mục Vinh Sơn Phạm Trung Thành (Giám Tỉnh) và tập thể Tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế VN - Nguyễn Mai Sơn - Lê Hiếu Đằng, Đảng viên, nguyên phó chủ tịch UBMTTQVN tp. HCM - Phóng viên Bạch Liên - Quách Sơn Mạc - Trần Vũ Bách Niên - ĐN, sư chị xóm Mới LM - Hoài Chân - Gia Bảo, giáo dân Công giáo - Hạnh Chơn, Phật tử TPHCM - Sư con - Trần Quốc Việt - Nguyên Thọ Trần Kiêm Đoàn - Huyền Lam - Nguyên Hỷ Đỗ Tường Vân - Nhà văn Vĩnh Hảo - Cheri Maples, Đại úy CA Hoa Kỳ - Thích Phong Định - Giáo sư Nguyễn Huệ Chi - T. M. T. tập sự nữ xóm Mây Đầu Núi - Tâm Giao Nguyên - Nhóm “baby monks” - Nhà thơ Vô Thường - Quảng Tựu Đoan Thanh - Sư chị Xóm Mới - Phóng viên Vân Thủy - Trần Đình Nguyên - Liên Anh - Luật gia Phạm Như Hưng & Mai Thanh Hiếu - Phật tử Diệu Thành - Hoa Vô Ưu TH - Trịnh Tú Nhân - Phóng viên Gia Minh - Sư chú Bát Nhã tị nạn ở Phước Huệ - Phật tử Lâm Đồng - Tâm Quảng Kim - Phóng viên Trà Mi - Pb - Nguyễn Hoàng Quang - Đoan Nguyện - Luật gia Nguyễn Trung Nguyên - Phật tử Nguyên Hưng - Chân Nguyên - Diệu Nguyện, Phật tử Bảo Lộc - Tâm Nhiên - Hoàng Bảo Lâm & Lâm Nguyên Quảng - Chân Toàn - Phổ Tâm - Bắc Phong - Lý Viết Chân - Thích Quảng Kim - Thích Tâm Lạc - Thích Tâm Hỷ - Thích Nữ Tâm Nhật - Thích Chân Pháp Sỹ - Tâm - và Lê Nguyên.

Các quan chức Chính quyền và Giáo quyền: Đỗ Phú Thạch, Trưởng Ban CA xã Đamb’ri – TT. Thích Đức Nghi, Viện chủ tu viện Bát Nhã - Nguyễn Thế Doanh, Trưởng Ban TGCP - Trương Kim Viên, Phó Chủ tịch UBND thị xã Bảo Lộc - Hòa thượng Thích Thiện Nhơn, Phó CT kiêm TTK GHPGVN - Hòa thượng Thích Toàn Đức, cùng toàn thể thành viên Ban Trị Sự Phật Giáo tỉnh Lâm Đồng - ông Bob Filner, Dân biểu quốc hội HK - Phạm Quang Tường, Chủ tịch UBND Bảo Lộc - Hòa thượng Thích Thiện Pháp, Phó TTK kiêm CVP 2 GHPGVN - Hoà thượng Thích Pháp Chiếu, Trưởng BTS PG tỉnh Lâm Đồng - Nguyễn Phương Nga, phát ngôn Bộ Ngoại giao VN - Chime R Chhoekyapa, Thư ký Văn Phòng Đức Ngài Đạt Lại Lạt Ma - Heidi Hautala, Chủ tịch Phân Ban Nhân Quyền của Ủy Ban Ngoại Giao Quốc Hội Âu Châu - Thượng tọa Thích Minh Nghĩa, Viện chủ tu viện Toàn Giác Đồng Nai - Thượng tọa Thích Viên Thanh, Viện chủ Thiền Viện Vạn Hạnh Đà Lạt -  Nguyễn Thanh Xuân, Phó trưởng Ban TT Điều hành BTGCP - Thượng tọa Thích Thái Thuận, Chánh đại diện PG Bảo Lộc - Human Rights Watch - Amnesty International.

Các cơ quan truyền thông: Giác Ngộ - RFI Việt ngữ - La-Croix - Người Việt - Calitoday - AP - Sen Việt - RFA việt ngữ - Radio Veritas Asia - talawas - BBC Việt ngữ - The Wall Street Journal - AFP - VOA Việt ngữ - Deutsche Presse-Agentur - Nữ Vương Công Lý.

Phụ đề:

Thiền sư Thích Nhất Hạnh được tạc tượng tại Oakland
OAKLAND, California - Thành phố Oakland vừa khánh thành Tượng Đài Nhân Đạo hôm Thứ Ba, với những bức tượng đồng của 25 nhân vật nổi tiếng thế giới, trong đó có Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, theo một bản tin của đài truyền hình địa phương KTVU.

Tượng đài, với chi phí $8 triệu, được dựng phía Tây của Henry J. Kaiser Memorial Park, ngay trung tâm thành phố Oakland.

Tượng Đài Nhân Đạo vừa được khánh thành tại Oakland. (Hình: oaklandnorth.net)

Ba trong số bốn khu vực tượng đài rộng 1,000 square feet được đặt tên “Remember Them: Champions for Humanity,” có tượng của 25 nhân vật nổi tiếng đấu tranh cho nhân quyền trên thế giới, từ Martin Luther King, Jr. tới Franklin Delano Roosevelt tới Maya Angelou, Cesar Chavez và Mahatma Gandhi.

Người Việt Nam duy nhất có tượng trong tượng đài này là Thiền Sư Thích Nhất Hạnh.

Ngoài ra, có sáu nhà hoạt động địa phương cũng được tạc tượng phía sau tượng đài, trong đó có ông Henry J. Kaiser, cư dân Oakland, sáng lập viên công ty bảo hiểm Kaiser Permanente.

Chi phí hoàn thành bức tượng này có được qua sự đóng góp của Phòng Thương Mại Oakland cùng với các công ty Kaiser Permanente, AT&T và Clorox, và một số cá nhân địa phương.

Thành phố Oakland cũng đóng góp vào tượng đài $100,000, theo ông John Ellis, phát ngôn viên thành phố.

Tượng đài cao 21 feet, rộng 52 feet, nặng 50,000 pound này do nghệ sĩ Mario Chiodo thực hiện.

theo Calitoday



Mẹ đắp mền cho con ngủ/Trong mền có hơi ấm mẹ ủ ngàn năm/Để tim con rực lửa cõi trần
Mẹ nấu cơm cho con lót dạ/Hạt ngọc là thân thể con đây/Xây núi đồi đất nước…

Lời của Ngô Thị Hạnh trong bài thơ “Cảm ơn mẹ” đấy. Chừng đó cũng thấy trong tình thâm mẫu tử đã ẩn chứa sâu xa ước vọng tuổi trẻ về tương lai của đất nước của tác giả.

Đối diện với Hạnh, nét chân quê vơi đi ít nhưng nét hồn nhiên, chân thực, thông minh thì biểu lộ nhiều từ bản chất đến hình thức bề ngoài.

“Nắng từ những ngón chân” – Nxb Thanh Niên năm 2010 là tác phẩm thứ 5 của Hạnh, sau “Vang Vọng”, “Rơi ngược” (Thơ – Nxb Thanh Niên) và “Hòn bi vỡ” (tập truyện), “Ba cô mèo cài hoa phượng” (truyện vừa) – NxbKim Đồng. Với tập thơ mới nhất này, Hạnh tập trung nhiều vào chủ đềgia đình.

Mẹ đã từng vượt cạn
cha không thể đau giùm
con càng làm mẹ khổ
xẻ thịt và phanh thây

Kiệt sức vì sinh tử
mẹ trải qua một mình
sao giờ còn sợ hãi
trước một ánh nhìn: thôi!
(Bài “Mẹ đã từng…”)

“Nắng từ những ngón chân” có hai phần: Nỗi đau chuông gióKhoả thân tâm trạng. Qua vần thức mỗi bài thơ, người đọc như thấy lòng mình se lại, nhịp đập con tim như buốt hơn trong niềm thương nỗi tảo tần của người mẹ. Sự chịu đựng đến vô thường của mẹ làm cho người con thấy lo lắng xót xa. Và tự thấy phải trách nhiệm với bản thân mình hơn. Cuộc đời gian lao vất vả của mẹ, của cha cũng là tấm phản chiếu cho con liệu mà bước đi trên đường đời. Hạnh nhận ra cái “vô thường” của mẹ để rồi những giọt mồ hôi của mẹ, giọt nước mắt của con hoà vào nội tâm của thơ:

Tôi thấy tôi trong khắp kiếp nhân sinh
Nắng chứa chan Sài Gòn nhật thực
Tôi khát thương yêu dịu ngọt cỏ hoang tàn…

Chương Nỗi đau chuông gió gợi mở một tư duy khác về cuộc đời của người mẹ và của người làm cha. Hạnh muốn chia sẻ nỗi lòng của cha mẹ. Tác giả lột tả tâm trạng của mình trong thơ cũng nhằm nhắn nhủ những bậc làm cha mẹ nên tự nhân diện rõ cảm xúc thật của mình. Dù đó là cảm xúc không lành lặn trong tâm hồn, khi được thừa nhận, có thể mọi việc sẽ tốt hơn là nuốt ngược nỗi chịu đựng vào lòng. Dám nói lên nỗi lòng của người mẹ, để đặt câu hỏi: vai trò của người đàn ông như thế nào trong xã hội và trong gia đình, là cột trụ dưới mái ấm hay hời hợt, yếu đuối trước những người phụ nữ dám sống và không sợ phải trả giá…

Trong thơ của Ngô Thị Hạnh, người đọc thấy từng giọt thời gian vương trên tóc người mẹ, nắng không nhuộm nhưng tóc mẹ dần phai màu. Ứa nước mắt và càng thông cảm hơn những nhọc nhằn của người mẹ như thế, hy sinh vì con cái, gia đình.

Hạnh nói: “Tập thơ “Nắng từ những ngón chân”, Hạnh dành những suy tư về mẹ. Mẹ đã vượt lên khổ đau, mẹ hoạt bát, bươn chải, giỏi giang. Với mẹ tất cả đều là hạnh phúc, hạnh phúc của người phụ nữ thời hiện đại, vừa “xây nhà vừa xây tổ ấm”, gắng sức đến nỗi thấy mẹ không còn là chính mình. Ý này được thể hiện trong bài thơ “Người đàn bà gánh”:

Thương cha mẹ xát muối vào lòng
thương con mẹ tảo tần lặng bước
những lúc buồn nước mắt nghẹn rơi

Con phân thân là nắng
mẹ gánh cả trời cao…

hay

Con khóc mẹ đau
Cha sầu mẹ héo
Ruộng vườn khô mẹ nứt nẻ cõi lòng…
(Bài “Nỗi đau chuông gió)

Phải chăng đó lại là hạnh phúc của mẹ ? Do vậy, Hạnh đã rung động viết “Bí mật của hạnh phúc” chăng ? Và mỗi lần lần dở trang thơ đọc lại, Hạnh vẫn rưng rưng, lòng muốn những người làm chồng, làm cha nhìn cuộc đời người mẹ làm sự phản chiếu rọi lại chính mình mà nâng niu gìn giữ tổ ấm. “Bí mật của hạnh phúc” đã nói lên tâm trạng này:

Mẹ quét nhà, rác chảy ra sân
cha quét nhà, rác chảy vào ngực mẹ
rát buốt

Mẹ rửa mặt
mồ hôi hoà tan vào nước
cha rửa mặt
giọt mặn chảy vào đôi mắt mẹ cay

Nhưng trong bài “Nghịch lý”, người đọc lại thấy con thấu hiểu mẹ hơn:

… từ người đàn bà hoá nắng mùa xuân
không biết ngại ngần đau và khổ
từ người đàn bà mẹ trở thành Bồ Tát
chẳng biết yêu mình chỉ biết sống vì con
từ người đàn bà mẹ biến thành tiên nữ
không biết khát tình mơ vọng cho yêu

Những vui buồn của mẹ
gắn vào con như thịt ở trong da…

Con với bao la
lao vào khát vọng
nắng tan vì mình
ngỡ nắng tự hiến dâng…

Có lẽ vì hiểu mẹ đến vậy nên khi bài thơ “Mẹ ơi” khởi lên trong đầu, Hạnh viết nhanh nhất trong tập, nhưng lại là bài có tứ suy ngẫm trong tâm tư suốt thời gian gần 1 năm. Cách diễn đạt đơn giản, nhưng khắc hoạ được hình ảnh người mẹ lầm lũi, vất vả, buồn vui nhạy cảm, dễ bị tổn thương nhất trong gia đình. Tình yêu bắt nguồn từ những điều giản dị nhất, và cũng có thể ra đi vì những điều nhỏ nhất mà ta không ngờ tới. Chữ tình, chữ hiếu của người con đã được tác giả thăng hoa bằng tình thương yêu không kém phần nuối tiếc, tạc vào tâm khảm suốt cuộc đời.

Ngày nào mẹ cũng lau nhà
sàn nhà sạch tâm hồn mẹ rỗng
ngày nào mẹ cũng nấu cơm
bữa cơm đầy hạnh phúc dần vơi…
(Trích bài “Mẹ ơi”)

Hạnh cất tiếng khóc chào đời tại miền quê Hưng Yên rồi theo cha mẹ vào sống tại Tây Ninh. 30 tuổi đời, nhưng Hạnh đã có một bề dày hoạt động xã hội sôi nổi trong 10 năm. Lúc đang độ tuổi trăng tròn bay nhảy, Hạnh đã là Phó Bí thư Đoàn trường Trần Hưng Đạo ở Tây Ninh, Phó Chủ nhiệm CLB Hoa học đường NVH Tây Ninh, cộng tác viết bài cho các báo Mực tímÁo trắng. Khi là sinh viên trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân Văn TP Hồ Chí Minh, cô tiếp tục viết cho các báo Văn nghệ, Tuổi trẻ, Phụ nữ của TP Hồ Chí Minh... Lúc còn sinh viên khoa ngữ văn trường đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn TP. Hồ Chí Minh, Hạnh đã xuất bản 2 tập sách “Vang vọng” và “Hòn bi vỡ”, hoạt động tích cực trong CLB Văn học của khoa. Ra trường, Hạnh đã từng làm việc ở NXB Thanh Niên, là thành viên trong Ban Văn trẻ của Hội nhà văn thành phố. Là một người viết khá lặng lẽ, nhưng cũng là một người yêu thích những hoạt động phong trào của Hội, Hạnh luôn hào hứng với những trại sáng tác dành cho người trẻ và tham gia Ngày thơ hàng năm của Hội.

Hạnh không chỉ sáng tác đều tay và tâm huyết trong thơ văn truyện ngắn, cô còn tham gia viết kịch bản phim truyền hình. Với những người bạn cùng tâm huyết, Hạnh thành lập nhóm biên kịch Nắng Sài Gòn – chuyên viết về những kịch bản lấy bối cảnh ở Sài Gòn và các tỉnh lân cận. Nhóm Hạnh đã từng tham gia viết các phim: Gia đình số đỏ (40 tập - đạo diễn Văn Công Viễn - Công ty Đại Nam sản xuất), Cô nàng tóc rối (110 tập - đạo diễn Nguyễn Minh Chung, Hãng BHD sản xuất)… Hiện nay nhóm vẫn đang kiên trì sáng tác và sở hữu nhiều đề cương kịch bản (chưa sản xuất) với các đề tài lịch sử, tâm lý xã hội và đề tài mang hơi thở của cuộc sống tuổi trẻ thời hiện đại.

Hạnh tâm sự: “Trong Hạnh có nhiều cảm xúc mãnh liệt, nhưng khó thể hiện chúng bằng thơ. Có thể để chúng tan đi bởi chúng không có lợi cho chính mình và cho độc giả. Hạnh tự nhận biết trong tập “Nắng từ những ngón chân”, vai trò sáng tạo trong bản thân rõ rệt nhất. Ngày nay không thể bày tỏ những gì quá bi luỵ trong thơ, có thể làm đảo lộn đời sống của độc giả. Vì trước đó trong tập “Rơi ngược” Hạnh đã cảm thấy như vậy. Phải sau một thời gian dài làm thơ, Hạnh đã tin vào khả năng lựa chọn mỗi khi mình cầm bút và ước mong thơ của mình có khả năng “gạn đục khơi trong” dòng cảm xúc của độc giả. Mong độc giả đọc thơ mình đau, buồn, thương, nhớ đó nhưng sẽ hiểu bản thân họ và gia đình hơn qua thơ của mình. Từ đó, họ biết họ đang sống cho điều gì và biết quý trong hơn những niềm vui trong hiện tại…”

Như bài “Hạnh phúc từ những ngón chân” là tựa 1 bài thơ trong chươngKhoả thân tâm trạng, sau khi đi tìm qua nhiều thứ lớn lao và lý tưởng, người ta chỉ cảm thấy hạnh phúc khi quay về với chính mình, vui buồn với cơ thể mình, từ những mạch máu nhỏ hay từ những ngón chân “đẹp rạng ngời”… Bài “Là em”, tình yêu có thể vượt ra ngoài thể xác, khi đã chết, người ta yêu theo một cách khác, đằm thắm và “thật” hơn – động từ “chết” – Hạnh cũng sử dụng khá nhiều trong chương này. Như thể khi quá thương đau người ta sẽ biết được lúc bình an thì con người sẽ tốt biết chừng nào và quý trọng cuộc sống an hiện của mình hơn./.

Ngô Thị Hạnh





Vào khoảng trung tuần từ tháng 4 đến hết tháng 5 năm Tân Mão. ( tức là tháng 5 đến tháng 6 năm 2011)

Trên quê hương làng An Bằng đồng loạt diễn ra những sự kiện văn hóa, lễ nghi, lễ hội, rất lớn mà từ xưa đến nay chưa từng có như ở trong thời điểm nầy...đó là:

  1. Đại lễ Phật Đản Phật lịch 2555 tổ chức trọng thể trong cả nước, có xe hoa diểu hành, xe hoa toàn huyện Phú Vang diểu hành quanh tượng đài Quan Thế Âm Bồ Tát tại bãi biển làng An Bằng xã Vinh An huyện Phú Vang, tỉnh TT-Huế, một buổi tối và ở lại trên đất Tượng Đài Quan Thế Âm Bồ Tát một đêm, một ngày rồi khởi hành đến thành phố Huế sau đó...

  1. Đại tôn họ Hoàng tổ chức lễ Khánh Thành nhà thờ vào ngày 27 và 28 tháng 4 Âm lịch thành công tốt đẹp.

  1. Lễ Âm hồn được tổ chức vào ngày 1 tháng 5 Âm lịch, theo truyền thống của làng.

  1. Đại tôn họ Lê tổ chức lễ Khánh Thành nhà thờ vào ngày 6 và 7 tháng 5 Âm lịch thành công mĩ mãn.

  1. Làng Văn hóa An Bằng tổ chức Đại lễ Khánh Thành nhà thờ của 45 họ tộc vào các ngày 7 và 8 tháng 5 Âm lịch ( Lễ chính thức vào ngày 6 tháng 5 ÂL) tại Đình làng toàn dân làng từ trong nước đến hải ngoại đều tham dự.

  1. Đại lễ Khánh Thành ngôi tượng đài Quan Thế Âm Bồ Tát tại bãi biển làng An Bằng, xã Vinh An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa thiên-Huế; tuần lễ này từ ngày 12 đến ngày 16 tháng 5 Âm lịch trong đó:

Lễ Bạc độ, giải oan tại bãi biển làng An Bằng, có lễ hội hoa đăng đêm rằm (15 ) trên biển; và bãi biển; cũng là tuần lễ trưng bày tranh ảnh, văn hóa phẩm, văn hóa Phật giáo làng An Bằng đã vốn có từ xưa đến nay.

Đúng 8 giờ sáng ngày 16 tháng 5 năm ÂL cử hành lễ chính thức Cắt Băng Khánh Thành, dưới sự chứng minh của Chư Tôn Thiền Đức trong tỉnh TT-Huế và Quảng Trị, Đà Nẳng, quí vị Trú trì các Tổ đình, Tịnh Xá, Tịnh Thất, cung thỉnh chư Hòa Thượng, Thượng Tọa Đại Đức Tăng, Ni trong toàn tỉnh. Chư Thượng Tọa Đại Đức Tăng Ni người con của quê hương An Bằng đi xuất gia ở trong và ngoài nước đều mời về tham dự.

Các cơ quan lãnh đạo chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã, và cấp địa phương. Các Ban Đại diện Phật giáo cấp huyện trong tỉnh, các Khuôn hội trong huyện Phú Vang và vùng Duyên Hải đều về tham dự.

Các cơ quan thông tấn, báo chí, truyền thanh, truyền hình trong và ngoài tỉnh đều tham dự, quí cơ quan đoàn thể mọi ngành, mọi giới, từ cấp tỉnh xuống địa phương. Hội đồng hương tộc làng Văn hóa An Bằng ở trong và ngoài nước, 10 phường cúng tế. 45 họ đại tôn, thập phương thiện tín xa gần, nhân dân làng An Bằng, Phật tử An Bằng từ trong nước đến hải ngoại đều về tham dự đông đủ.

Sau lễ cắt băng Khánh Thành là lễ Trai Tăng cúng dường; tiệc trai tiếp quan khách, và phật tử đều dùng bửa cơm thân mật, theo nhu cầu của mọi người.

Kể từ ngày 12 đến ngày 16 tháng 5 năm Tân Mão (nhằm ngày 13 đến ngày 20 tháng 6 năm 2011) từ các ngõ trục đường chính có hướng về Tượng Đài ở khắp trong làng, băng, cờ, khẩu hiệu, hướng về ngáy đại lễ; và nhất là trên bãi biển An Bằng, ngày cũng như đêm, lượng người nhộn nhịp, tấp nập, hàng hóa, phương tiện phục vụ cho ngày đại lễ đều tập kết về khu vực tượng đài, ánh sáng, đèn, điện, đủ các màu sắc rực rỡ tại khu vực tượng đài chuẩn bị cho đến ngày giờ cử hành lễ chính thức.

Trong niềm vui chung, như tràn đầy nước mắt mơ ước từ lâu của mọi người, không phân biệt chức quyền, địa vị, ranh giới, địa phương, dân tộc, tôn giáo đều cảm nhận rằng: được gặp gỡ nhau lần nầy, hòa quyện với lòng Từ Bi của đấng cứu khổ Mẹ Hiền Quan Thế Âm Bồ Tát.

Nhất là sau giờ giải lao, tham quan thăm viếng, chúc mừng thật là một ngày trọng đại muôn tiền khoán hậu, tâm nguyện của nhân sinh vọng về thế giới ba ngàn đều chung một lời cầu nguyện. Quốc thái dân an, thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc, đồng nguyện cầu quá cố chư hương đã ra đi trong mọi hoàn cảnh được siêu sanh lạc quốc.

  1. Đến ngày 19 tháng 5 năm Tân Mão ( nhằm ngày 20 tháng 6 năm 2011)

Lễ hội đua thyền cầu Ngư ( Tam niên đáo lệ). Từ từng đơn vị, Cụm Dân Cư, đều rộn ràng, sôi nổi chuẩn bị ghe, thuyền, trai bạn, luyện tập suốt cả hàng tháng trời, chờ ngày giờ tập trung, phát lệnh là khởi hành đua tranh giải... Đây là một lễ hội truyền thống mang bản sắc văn hóa, dân tộc, cũng là một môn thể thao đôc đáo nhất của con dân làng An bằng.

Nhân dân trong làng và khách các địa phương đều đến tham dự và cổ vũ. Hàng quán phục vụ tới tấp nhiều hơn so với các năm về trước. Phải nói rằng từ xưa đến nay chưa bao giờ có lượng người đông đảo như năm nay. Số lượng Việt kiều về tham dự đại lễ Khánh Thành Tượng Đài Quán Thế Âm Bồ Tát, và các lễ hội nhiều và đông nhất từ trước đến nay…

Mọi người con dân Làng An Bằng chúng ta rất đáng tự hào, phát triển nhanh chóng về mọi mặt, đời sống kinh tế,văn hóa, giáo dục, du lịch tâm linh, an bình, trật tự chưa có một làng quê nào sánh kịp.

Nói đến đây tôi xin nhường lại để quí vị quan khách, các cơ quan hửu quan, và mọi con dân làng An Bằng ở trong nước cũng như ngoài nước. nhận xét để hảnh diện, vui mừng và sẽ có những điều cần nói tiếp…

Phim ảnh liên quan đến lễ Khánh Thành Tượng Đài xin mời vào DIỄN ĐÀN VẼ ĐẸP PHẬT PHÁP http://ww.vedepphatphap.com

Văn Tiến Nhị

Tin từ Huế ( Ban tư liệu)
sử dụng ca khúc Phật Đản Ca của NS Lê Minh Hiền ( An Bằng)



Thiền, cốt tuỷ nhất, là tự tri; là tâm trí thấu hiểu chính nó, thấy biết chính nó,soi sáng chính nó để giải thoát khỏi tình trạng vô minh. Trạng thái vô minh của tâm trí tức là trạng thái vô minh của ý chí, tức là trạng thái vô minh của ông chủ sự sống.

1.

HỎI: Thiền là gì

ĐÁP: Có người cho rằng, vì siêu vượt mọi tổ chức và hình thức quy định, vì siêu vượt mọi ngôn từ, mọi khái niệm và tướng trạng nên không thể nói được Thiền là gì. Nhưng, nếu không thể nói gì được thì đạo lí Thiền đã không có mặt ở cõi đời.

Thiền, cốt tuỷ nhất, là tự tri; là tâm trí thấu hiểu chính nó, thấy biết chính nó,soi sáng chính nó để giải thoát khỏi tình trạng vô minh. Trạng thái vô minh của tâm trí tức là trạng thái vô minh của ý chí, tức là trạng thái vô minh của ông chủ sự sống.

Tâm trí vô minh mang năng lượng khuôn đúc, quy định trạng thái óc não. Trạng thái óc não bị khuôn đúc chính là trạng thái chấp thủ, chấp ngã (khẳng định cái “tôi” huyễn ảo). Một óc não bị khuôn đúc thì không thể có tự do và minh triết trong nhận thức, trong tư duy.

Tâm trí vô minh, vì sống không minh triết, nên tích tụ năng lượng gây hậu quả đau khổ phiền não cho chính cuộc sống của nó (một cấu trúc thân-tâm-cảnh), trong vòng sinh hoá luân hồi.

Tâm trí vô minh góp phần gây ô nhiễm cho tổng thể; góp phần gây hỗn loạn đảo điên cho vô thức của nhân loại, của chúng sinh, của toàn thể vũ trụ.

Tâm trí vô minh, vì sự chấp thủ-chấp ngã ngự trị, nên lương tri bị che mờ; vì thế không có đạo đức nhân văn đích thực, không có tâm thái hoà bình.

Tâm trí vô minh không thể ngộ nhập Chân Lí Tối Thượng (Thượng Đế, Chân Tâm, Viên Giác…); không thể biết đến tâm linh vĩnh hằng (tri giác phi thời gian tâm lí); không thể giác ngộ thực tại cuộc sống; không thể có cái-nhìn-như-thực (tuệ nhãn).

Một tâm trí không thấu hiểu chính nó, không thấy biết chính nó, thì chắc chắn đó là một tâm trí đầy ngã chấp si mê, vô minh tăm tối. Tâm trí đó dù học nhiều, biết rộng, giàu tài năng (kể cả tài năng hoạt động tôn giáo), lừng danh về trí-công-cụ, vẫn không phải là có trí tuệ đích thực (vô sư trí); vẫn không phải là tâm trí tỉnh thức đích thực.

Thiền là sống với những giây phút “tự tri-tỉnh thức-vô ngã” (đạt viên mãn rất khó). Thiền là những giây phút sống với tâm vô trụ, với nhân cách tự-do-tinh-thần. Vì thế, trong Đường Về Minh Triết (Tuệ Thiền; NXB Văn Nghệ, 2007) có viết: “Tự tri-tỉnh thức-vô ngã” là đạo lí của vũ trụ, là mẫu số chung của ý nghĩa cuộc sống, là Thiền; mang năng lượng tích cực có lợi cho toàn vũ trụ, cho sự thăng hoa trí tuệ-tâm linh chung của tất cả”.

Hành thiền, cốt tuỷ nhất, là tự tri, là quán tâm. Học Thiền, tức học đạo lí giác ngộ, cốt tuỷ nhất là nương ngôn từ để thấy biết trạng thái tâm trí. Tâm trí có sự thấy biết chính nó, đó là có sự giác ngộ, có sự tỉnh thức.

Thiền là sự tỉnh thức của ý chí cuộc sống. Thiền là giá trị tối thượng của nhân loại muôn đời, của vũ trụ. Có thể gọi “Thiền” bằng nhiều tên gọi khác, nhưng nội hàm là “tự tri-tỉnh thức-vô ngã”. Dù áp dụng phương cách nào để chuyển hoá tâm thức, nhưng nếu có nội hàm “tự tri-tỉnh thức-vô ngã” là có Thiền, là có giác ngộ. Không có sự soi sáng cái “tôi” thì không thể có giác ngộ chân thực, không thể có Thiền chân chính; không thể có phẩm chất khế hợp Chân-Thiện-Mĩ.

2.

HỎI: Phải đọc văn bản có giá trị giác ngộ tự tâm (tức là giác ngộ cội nguồn cuộc sống) như thế nào?

ĐÁP: Nếu đọc mà dùng nhận thức suy luận để hiểu, đó là đọc bằng trí-công-cụ, bằng tâm ngôn-tâm hành; tức là đọc bằng vọng tưởng, bằng kiến thức bị quy định. Tâm ngôn-tâm hành là sự nói năng trong tâm, là sự diêu động trong tâm; là vọng tưởng. Vọng tưởng càng nhiều thì thực tại của tâm, mặt thật của tâm trí càng bị che mờ. Sự hiểu bằng cách đọc này chỉ có giá trị định hướng, đánh thức khát vọng giác ngộ, chứ không có sự giác ngộ đích thực.

Phải vừa đọc, vừa nghiệm, vừa đối chiếu với trạng thái tâm trí đang hiện hữu (đang là). Văn bản như tấm gương soi để thấy rõ mặt tâm trí, để ấn chứng.

Không quán tâm, không tự tri thì không biết đọc Thiền, không biết học Thiền. Cốt tuỷ của việc học Thiền là trực quan, tức là thấy rõ (nghe rõ, biết rõ) trạng thái tâm trí bằng tri giác nội tại. Giống như học giải phẫu cơ thể, không thể học được nếu không tận mắt thấy rõ các bộ phận trong cơ thể.

Biết đọc văn bản giác ngộ là có giác ngộ.

3.

HỎI: Vọng tưởng là gì?

ĐÁP: Vọng tưởng là những hoạt động của tâm trí gắn chặt với trạng thái tâm lí si mê chấp ngã (quy ngã, khẳng định cái “tôi” huyễn ảo). Hoạt động của vọng tưởng hàm chứa hai chiều hướng đồng thời: một chiều thì hướng về đối tượng, một chiều thì hướng về chủ thể vô minh. Chủ thể (tức là cái “tôi” huyễn ảo) vô minh vì bản thể không có sự soi sáng, không có sự tỉnh giác. Vì chủ thể là sự vô minh nên mọi hoạt động của tâm trí được gọi chung là vọng tưởng.

Nói khái quát thì vọng tưởng còn có những tên gọi khác là: vọng niệm, vọng tâm, vọng thức, nghĩ tưởng, niệm tưởng, suy nghĩ, suy tưởng, tư tưởng, nhớ nghĩ, tưởng nhớ, tâm ngôn, tâm hành, tâm sinh diệt, kiến chấp, chấp thủ…Tức là mọi hoạt động của tâm trí trong trạng thái vô minh.

Vọng tưởng hàm chứa sự phân biệt mang tính chất vị ngã (sự vị ngã có thể rất khó nhận biết). Tâm phân biệt (nhị nguyên) thì có ngôn từ, vì thế, rất cụ thể, vọng tưởng là những nói năng trong tâm trí. Vọng tưởng là những nói năng trong tâm trí, nên những nói năng trong tâm trí (tâm ngôn) là biểu hiện của cái “tôi”, của sự chấp ngã.

Biết vọng tưởng trọn vẹn (tức biết lắng nghe sâu sát và tự nhiên những nói năng trong tâm trí) là biết nhắm vào gốc rễ của cấu trúc vô minh, phiền não. Thấy rõ, biết rõ điều này rất quan trọng cho Thiền, cho sự đột chuyển (chuyển y) nội tâm, cho sự nghiệp giác ngộ.

Vọng tưởng là huyễn tướng. “Tri huyễn tức li, li huyễn tức giác” (Kinh Viên Giác). Thấy biết rõ vọng tưởng thì tướng vọng tưởng tự lìa, tánh Viên Giác hiện tiền (cũng chính là vô niệm hiện tiền, tánh Không hiện tiền, chân tâm hiện tiền, vô ngã hiện tiền).

Những lúc có sự tỉnh thức thật sự (vô niệm hiện tiền, tịch quang hiện tiền), thì khởi niệm khởi tưởng tuỳ duyên được gọi là chánh trí, chơn thức…

Với trạng thái vô minh chấp ngã, với trạng thái vọng tưởng, sự tôn vinh trí-công-cụ làm cho nhiều vấn đề càng ngày càng nan giải là: siêu thiên tai vì biến đổi khí hậu, lan tràn bạo lực và chiến tranh, bành trướng vũ khí hạt nhân và vũ khí sinh học, môi trường sống bị ô nhiễm nghiêm trọng, thực phẩm chứa đầy độc hại, tai nạn giao thông tràn lan, gia tăng nhiều bệnh tật hiểm nghèo, dân đen bị trí-chó-sói bóc lột đa dạng, đói khát, tranh giành quyền lực quyền lợi khốc liệt, bịp bợm xảo quyệt, sa đoạ lương tri, sa đoạ tinh thần, tâm bệnh…

Rất cần có Ngày Quốc tế “tự tri-tỉnh thức-vô ngã” để định hướng cho văn hoá-giáo dục, để nhắc nhở tâm ý con người.

4.

HỎI: Thế nào là giác ngộ?

ĐÁP: Ý chí sự sống là động lực chủ hướng của sự sống, là ông chủ cuộc sống, là cái tâm của dòng sinh mệnh. Khi nói cuộc sống vô minh, tâm trí vô minh tức là muốn nói rằng, ý chí sự sống đang trong trạng thái không tự thấy, không tự biết… Tâm không tự thấy không tự biết tâm, vì đang dồn năng lực cho sự hướng ngoại (mê trần cảnh), kể cả hướng ngoại ở nội tâm (mê ý trần).

Dồn năng lực cho ngoại cảnh (lục trần) nên tâm si mê theo ngoại cảnh, luôn nhớ nghĩ đến ngoại cảnh (vọng niệm). Trong trạng thái này, tâm không tự thấy không tự biết, không “nhớ” chính mình (thất niệm chân như). Tâm không tự thấy không tự biết nên quên chân ngã (chân tâm); quên chân ngã nên âm thầm khẳng định huyễn ngã (cái “tôi”) theo sự đeo bám ngoại cảnh. Ngoại cảnh thì vô thường vô ngã, nên trạng thái tâm chấp ngã si mê luôn bất an phiền não.

Ở con người, tâm ý hướng ngoại (vọng tâm, vọng tưởng) có biểu hiện là ngôn từ ở nội tâm (tâm ngôn), tức là sự nói năng trong tâm trí. Nhận ra sự kiện này là vô cùng quan trọng cho sự nghiệp giác ngộ.

Muốn giác ngộ, phải chuyển ngược động lực chủ hướng để thấy nghe, để nhận biết tự tâm tự tánh. Với khát vọng chuyển ngược động lực chủ hướng thì vô sư trí hiện tiền. Khác với hữu sư trí - một diễn trình nhận thức (tâm ngôn-tâm hành), vô sư trí là năng lực (là tấm gương bên trong) đang thấy biết vọng tưởng (vọng niệm). Đó là năng lực nghe rõ mọi nói năng trong tâm trí (quán thế âm) một cách tự nhiên, không dụng công (quán tự tại).

Vọng niệm có sự nghe lại, tức có sự tự thấy tự biết (tự tri), tức tỉnh giác thì tâm có sự đột chuyển (chuyển y), vọng niệm dừng lại (im lặng).

Vọng niệm dừng lại (im lặng) thì đồng thời, vô niệm hiện tiền với ánh sáng thanh tịnh (tịch quang). Vô niệm là vô tâm. Vô tâm là tâm vô ngôn. Tâm vô ngôn là Tâm Không. Tâm Không là Tánh Không. Tánh Không là vô ngã. Vô ngã là chân ngã. Chân ngã là Tánh Viên Giác. Tánh Viên Giác là “bổn lai diện mục”…

Thấy-biết-vô-niệm hiện tiền tức là Viên Giác hiện tiền. Đó là giác ngộ (sơ ngộ) đích thực. Vô niệm hiện tiền là mở mắt sự sống (tuệ nhãn), là ấn chứng cho sự nghiệp “trưởng dưỡng thánh thai” - tức sinh mệnh tuệ giác.

Sinh mệnh tuệ giác (huệ mạng) không chỉ là sinh mệnh cá nhân, vì tâm linh vừa mang tính chất cá thể (tâm trí cá nhân), vừa mang tính chất tổng thể (tinh thần vũ trụ). Sự nghiệp Thiền (tự tri, quán tâm) không chỉ có ý nghĩa cá nhân, mà còn có ý nghĩa đại thừa vô lượng.

5.

HỎI: Bát-Nhã Tâm Kinh là một bản kinh rất quan trọng, đâu là chìa khoá của kinh?

ĐÁP: Khi học Bát-Nhã Tâm Kinh rất cần lưu tâm đến cụm từ “chiếu kiến”. “Chiếu kiến” là “soi thấy”.

Câu kinh có cụm từ này là: “Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã ba-la- mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”. Thầy Tuệ Sỹ dịch là: “Bồ-tát Quán Tự Tại trong khi thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu, soi thấy năm uẩn đều Không, vượt qua tất cả mọi khổ ách”.

Dùng trí óc phân tích rồi kết luận rằng năm uẩn do duyên sinh – không có tự tính, đó là suy luận trừu tượng. Phân tích và suy luận chỉ giúp hiểu đối tượng bằng vốn liếng tri thức trong tâm trí bị quy định, để góp phần tăng khát vọng giác ngộ, chứ không thể thấy-biết-như-thực thực tại.

“Soi thấy” (chiếu kiến) là cụm từ chỉ sự kiện hiện tiền cụ thể, chứ không phải chỉ sự suy luận trừu tượng. Thấy-biết-như-thực là chiếu kiến.

Chiếu kiến (soi thấy) là giáp mặt đối tượng; một sự giáp mặt không còn ngăn cách nào, không còn chủ thể phân cách với đối tượng. “Quán tâm nơi tâm” trong kinh điển Phật giáo nguyên thuỷ cũng hàm ý ấy.

Nhưng làm sao để trạng thái chiếu kiến hiện tiền ở tâm?

Trạng thái chiếu kiến là trạng thái vô sư trí. Trí này hiện tiền do có ý định chủ hướng, do có khát vọng giác ngộ đích thực – giác ngộ vì tự lợi-lợi tha tối thượng.

Ý định chủ hướng nhắm vào đâu? Nhắm vào sự lắng nghe vọng tưởng; tức là lắng nghe mọi nói năng trong tâm trí; tức là lắng nghe ông chủ vô minh của ngũ uẩn; tức là quán thế âm. Phải lắng nghe một cách nhẹ nhàng và tự nhiên, không dụng công gắng sức; tức là quán tự tại. (Bồ-tát Quán Tự Tại chính là Bồ-tát Quán Thế Âm).

Với tri giác nội tại, khi biết nghe-như-thực thì cũng chính là thấy-như-thực, biết-như-thực. Đó là trạng thái chiếu kiến (soi thấy).

Khi biết chiếu kiến ngũ uẩn, khi thật sự soi thấy năm uẩn thì vọng tưởng dừng lại, tức là tâm im lặng. Nói cho dễ nhận, khi thật sự biết nghe lại mọi nói năng trong tâm trí thì tâm trí có sự đột chuyển (chuyển y), vô niệm hiện tiền (tức là Tánh Không hiện tiền).

Vô niệm hiện tiền chính là mở con mắt Tâm – con mắt của sự sống bất sinh bất diệt. Mắt mở sáng thì tuỳ duyên khởi tác dụng. Vô niệm hiện tiền là tuệ nhãn. (Thỉnh thoảng có được vài phút vô niệm cũng có công đức và phước đức rất lớn, nghiệp chướng vơi bớt).

Vô niệm là Tâm Không; là tâm vô ngôn phi thời gian; Tâm Không là Tánh Không. Tánh Không là Tánh Viên Giác.

Như thế, thật sự soi thấy ngũ uẩn, thật sự giáp mặt ngũ uẩn thì Tánh Không hiện tiền, Viên Giác hiện tiền. (Ta hiểu tại sao các minh sư khi Việt dịch chữ “không” thường viết hoa là “Không”).

“Chiếu kiến ngũ uẩn giai không” chính là “hành thâm Bát-nhã ba-la-mật-đa”. Vọng tưởng là trạng thái tâm trí si mê theo kiến chấp nhị nguyên đầy phiền não; Tâm Không hiện tiền thì cực lạc hiện tiền…

Học Bát-Nhã Tâm Kinh rất cần lưu tâm cụm từ “chiếu kiến”. Đó là chìa khoá mở cửa giác ngộ đích thực.

Tuệ Thiền Lê Bá Bôn/

wwwHV (12).JPG

TP.HCM: Cầu siêu nhân lễ chung thất nạn nhân thiên tai tại Nhật Bản

"Phút nhập từ bi quán"

Tối hôm qua 28-4, tại TP.HCM, Học viện Phật giáo Việt Namđã tổ chức lễ cầu siêu chung thất cho đồng bào tử nạn do thiên tai động đất, sóng thần tại Nhật Bản.

HT.Thích Đạt Đạo - Phó Viện trưởng Học viện, GS.TS Lê Mạnh Thát – Phó viện Trưởng Học viện, ông Furudate Seiki - đại diện Ngài Tổng lãnh sự Harumitsu Hida tai TPHCM, lãnh đạo thành phố, Tăng Ni sinh viên các khóa, doanh nghiệp và đông đảo Phật tử đến dự.

wwwHV (1).JPG

wwwHV (7).JPG

wwwHV (5).JPG

wwwHV (9).JPG

wwwHV (8).JPG

Chư tôn đức, quan khách và Phật tử dự lễ

Bắt đầu buổi lễ, HT.Thích Đạt Đạo đã điểm lại những con số về tổn thất do nạn động đất và sóng thần gây ra cho nhân dân Nhật Bản vào ngày 11-3. “Theo đạo Phật, tuần chung thất là tuần quyết định sự siêu thoát của một kiếp nhân sinh, trong tinh thần đó, Hội đồng Điều hành Học viện Phật giáo Việ Nam tại TPHCM tổ chức lễ cầu siêu chung thất tập thể cho gần 30.000 nạn nhân tử nạn, giúp họ sớm nhẹ nhàng siêu thoát về cảnh giới an lành”, Hòa thượng nhấn mạnh.

wwwHV (2).JPG

HT. Thích Đạt Đạo

wwwHV (6).JPG

Giáo sư Lê Mạnh Thát phát biểu

wwwHV (14).JPG

TT. Thích Tâm Đức phát biểu

wwwHV (15).JPG

TT. Thích Bửu Chánh phát biểu

Sau phần tuyên bố lý do, GS.TS Lê Mạnh Thát bày tỏ lòng cảm thương sâu sắc với đồng bào Nhật Bản đã gánh chịu đại nạn trên và qua lễ cầu siêu này, Giáo sư cũng xin hồi hướng công đức cầu nguyện của tất chư tôn đức Tăng, Ni, Phật tử cho những người tử nạn.

wwwHV (3).JPG

Thắp nến cầu nguyện

wwwHV (4).JPG

wwwHV (10).JPG

wwwHV (11).JPG

wwwHV (13).JPG

Thay mặt Học viện, TT. Thích Tâm Đức – Phó Viện trưởng cho biết chương trình vận động, hội thu của học viện được 600 triệu đồng, sẽ được gửi sang cứu trợ cho nhân dân Nhật trong thời đến.

Tin, ảnh Bảo Toàn


Copyright © NhocLak.Com .