TƯỞNG NIỆM LIÊN HOA NHÂN NGÀY CHUNG THẤT

Ngọc-chơn

Hôm nay là Tuần chung thất Anh!

Tôi! một người,mà cho đến ngày đọc cáo phó mới thật sự biết hình dáng Liên Hoa.

Nghe giọng đọc của anh cũng nhiều, xem bài viết của anh không ít và không hơn mười lần trò chuyện nhưng đã gặp nhau nhiều qua tư tưởng văn thơ, qua trăn trở trước cái đau của đồng loại, qua cái boăn khoăn khi xã hội quá suy đồi, chung ý nghĩ đi tìm lời giải đáp cho nỗi đau Mẹ Đất. Hẳn Liên Hoa không ham chuyện trăm năm bia đá, hay là lưu niệm. Làm sao nơi nào có thể làm nơi an trú cho một hạt bụi? Một cánh sen với trái tim dung dị mà tỏa ngát hương thơm phải không Liên Hoa?

Như Anh đã từng viết:

Vén lại muôn trùng, em ngồi đó

thời gian huyền thoại, chốn sơ tâm

trời mây réo rắc từng hơi sóng

thu vẫn ngọt ngào, cốm lúa bông

ai người ước nguyện vào gió cát

lặng lẽ hồ sen, tịnh sáng chiều

ánh mắt từ bi, còn mở ngõ

tình trong, em vẫn ngọt môi hồng

ánh trăng rủ sáng, chân trời mới

chớ bỏ sơ tâm, đón cội nguồn

chiếc áo ta bà, em quên khoác

làm sao gót đỏ bước thong dong…

Nhưng tôi chợt nghĩ, Liên Hoa sẽ sống mãi qua những bài viết,với những ngôn từ yêu thương ngất trời, hy vọng chứa chan, ngay có khi cuồng nộ đắng cay tuyệt vọng nhưng chẳng xuôi tay bỏ cuộc, mà vẫn còn muốn nói với nhau những lời êm dịu nên thơ.

Anh sẽ sống mãi như những câu thơ, những bài viết, những câu châm ngôn, những lời dịch thuật. Trong thế giới văn học, đặc biệt là Phật Giáo qua âm nhạc và thơ văn, không có một người nào khi biết đến Liên Hoa mà không mến mộ, không yêu thương như người bạn tri âm

Trong khung cảnh văn hóa Phật Giáo, Liên Hoa đã nâng ngôn từ yêu thương thành trái tim Từ bi, đã nâng thi ca thành Trí tuệ vô biên mà đặc thù là ca ngợi tinh thần Bát chánh đạo, đã chứng tỏ không có ý nghĩ nào hay tư tưởng nào dù cao siêu thâm diệu đến đâu mà không đi qua con đương Bát chánh.

(Hình: H.T Tuệ Sỹ và H.T Thái Hòa xem trang nhà http://www.lien-hoa.net/ )

Với trái tim của Mẹ hiền Quán Thế Âm Bồ Tát, Liên Hoa đã diễn đạt người với người sống để yêu thương.

Em dịu ngọt như lời hơi thở

hương từ bi tràn ngập cõi vô cùng

như cánh sen ửng hồng từ vô ngại

giữa cõi đời, mộng ước vẫn đơn sơ

màu sắc đó nở hoa từ vô thủy

mở lòng từ về suối ngủ mây bay

nơi bất hạnh, cánh sen hồng nụ mở

bàn tay Từ, gọi sắc giới về đây…

gọi tất cả muôn hạnh lành có mặt

gọi thời gian rộng đến cửa tam thiên

mở ngàn cánh cho sen hồng tươm mật

nhành dương chi rải khắp cõi ta bà…

Liên Hoa là người tiếp nối con đường hoàn thiện tinh thần Phật giáo bằng ngôn từ, bằng âm nhạc. Không những hoàn thiện mà Anh còn sống với chính tinh thần Từ Bi- Trí Tuệ của Đạo Phật.

Cho nên! Hôm nay ngày chung thất của Anh, chắng có gì cho người bạn hiền, tôi chỉ nghĩ đến Anh.

Tôi biết bạn bè và những người mến mộ Liên Hoa cũng như Gia đình thân nhân Liên Hoa, Rồi các chùa, nhất là chư tôn đức Tăng Ni, làm sao quên được, một người mà lời thơ nhiều khi đã trở thành pháp khí, trở thành những tiếng chuông tiếng mõ có tác dụng khai ngộ an tâm không kém gì kinh kệ.

Tôi tưởng niệm Liên Hoa không phải vì Anh là người nổi tiếng, mà vì Anh là người Việt Nam. Một người Việt Nam yêu Đạo Phật, sống theo Đạo Phật. Trước, trong và sau cuộc sống Anh đã khóc, đã cười và đã sống, sống đúng chính mình, sống đúng là người con Phật.

Vì Tôi nhớ Anh, tưởng niệm đến Anh nên mong rằng những bài văn ,những câu thơ, những tâm huyết của Anh không bị mai một, mà sẻ được phổ biến bất cứ nơi đâu, tôi luôn giữ trong tâm, lời nhắc nhớ, lời chia sẻ của Anh, Liên Hoa đã và đang ở trong lòng chúng ta, trong lòng những người con Phật

Cầu nguyện Liên Hoa mãi là Cánh sen thơm ngát nơi cõi Tịnh Độ Di Đà.

An-Khê-Gia- Lai

Đêm 25-03-Nhâm Thìn

Hình ảnh Ban biên tập và huynh đệ Vạn Hạnh cầu nguyện cho Liên Hoa cư sỹ nhân chung thất tuần 49


Kính bạch Chư Tôn Đức!

Theo giáo lý của đạo Phật thì người xuất gia không được lễ lạy cha mẹ đẻ. Như thế có gọi là bất hiếu với cha mẹ không? Vậy người xuất gia chỉ được lễ lạy những ai?
Con xin quý Thầy khai thị giúp chúng con ạ!

hay

Thầy ơi, câu này "Người xuất gia chỉ để khăn tang khi bổn sư (sư phụ của người xuất gia - PV) hoặc người trong sơn môn viên tịch. Còn cha mẹ mất không được để khăn tang hoặc lễ lạy" có đúng không ạ?

Học trò: Hiền Karo Hà Hội


Thư của Hòa thượng Thái Hòa gởi!

Pháp Bảo con!

Người xuất gia không lễ lạy cha mẹ hay quốc vương, vì đã cảm nhận ân đức và lạy trước khi lãnh thọ giới pháp Sa di. Vì sao sau khi thọ giới pháp rồi thì không lạy? Vì cha mẹ mình là của mình mà không phải là của giới pháp. Người có giới pháp thanh tịnh mà lạy cha mẹ là làm cho cha mẹ bị tổn phước, nên vì thương cha mẹ mà không lạy, chứ không phải bất hiếu mà không lạy. Thường thường mình lạy ai, thì thường làm cho vị ấy bị tổn phước mà phước mình lại tăng. Ấy là điều mà con cần phải chiêm nghiệm. Nhưng nếu con muốn lạy cha mẹ thì cứ lạy, như đức Phật đã từng lạy đống xương khô giữa đường có sao đâu. Lạy với tâm từ bi và làm duyên khởi để giáo hóa chúng sanh, thì cứ lạy. Lạy mà đừng làm cho họ bị tổn đức, thì cứ lạy. Còn nếu lạy mà làm cho đối tượng bị tổn đức là không nên. Người xuất gia đắp y hậu mà lạy người cư sĩ ngay cả lạy cha mẹ mình, là điều không nên, vì càng lạy thì cả hai phía điều tổn phước. Mình tổn phước, vì mình xử dụng pháp không đúng, nên không có hiệu quả và cha mẹ mình tổn phước, vì cha mẹ không đủ giới đức và phước đức để nhận lãnh sự kính lễ của một vị tỷ kheo có giới đức thanh tịnh đầy đủ cả tâm và tướng của người xuất gia. Hiếu không phải chỉ lễ lạy hay mặc áo tang mà có nhiều cách lắm con à!

Nguyễn Du nói: "Xưa nay trong đạo đàn bà
Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường;
Có khi biến, có khi thường
Có đâu chỉ có một đường chấp kinh".

Hiếu trong đạo phật là giúp cho cha mẹ có tín tâm với Tam Bảo, biết tu tập để thoát ly sanh tử, nhập vào dòng dõi của bậc Thánh, chứ không phải hiếu là dừng lại ở nơi cái lạy hay có con cái để nối dõi tông đường như chủ trương của Nho giáo đâu nhé!

Vài dòng cho con
Thầy
--------------------…--------------------

Thư của Thầy Pháp Bảo

Bạn Hiền mến! Theo như những năm tháng tu học ở chùa thì được nghe quý Tôn túc dạy, ‘Hạnh hiếu là Hạnh Phật, Tâm Hiếu là Tâm Phật’. Ngoài cha mẹ hiện tại của mình ra, còn có bốn ân và cha mẹ bảy đời và nghĩa sinh thành, dưỡng dục cao như núi Thái sơn.
Con ạ! Không phải lễ một lễ mới gọi là tôn kính, thắp nén hương mới thành thành tâm, không phải dâng một chén cơm, bồng hoa trái mới là người con có hiếu. Đó chỉ là cách bày tỏ lòng tri ân, báo ân, tôn trọng đạo lý uống nước nhớ nguồn.
Khi cha mẹ còn tại thế, những người con cần phụng dưỡng, lễ phép, chăm sóc và biết quý trọng tấm thân này, bằng cách ‘không được làm cho cha mẹ buồn phiền, đừng gây sự mang tai tiếng, ảnh hưởng đến tâm hồn của cha mẹ.’
Khi cha mẹ mất đi thì chúng ta cũng nên thờ tự, biết cách tu niệm mà làm những việc phước đức để hồi hướng.
Con theo quan niệm của một người xuất gia. Đã rời xa nhà thế tục, tìm con đường thoát ly phiền não, mang bồ đề tâm cao rộng để hóa độ mọi người thì tức nhiên người tu vẫn còn mang ơn của Đàn na thí chủ (Đàn việt), người thay cha mẹ lo cơm áo, thuốc men, sách đèn. Thật sự khi đã có tâm hiếu với Thầy tổ, lễ kính chư Phật thì đã mang một tâm hạnh;
“Con có cha, có mẹ
Cha mẹ có trong con
Nhìn mẹ cha, con thấy
Có con trong cha mẹ.
Con có Bụt, có Tổ
Bụt, Tổ có trong con
Nhìn Bụt Tổ, con thấy
Có con trong Bụt, Tổ.”
Hàng tháng ở trong các tự viện, thiền viện, tu viện, như chùa chúng tôi có làm lễ Chúc tán, lạy thù ân. Để mỗi ngày người tu có thể tiếp xúc được những ơn của chúng sanh, như Phật, Bồ-tát, Già lam thánh địa, hộ pháp, thầy tổ, ân sư trưởng, thiện hữu tri thức, kể cả người công quả, chấp lao phục dịch chúng tôi đều nhớ ơn; Huống hồ cha mẹ sinh mình ra, nuôi mình lớn, đồng ý cho mình đi xuất gia và sau ngày thọ cụ túc giới (thọ Tỳ khưu, bồ tát giới) Thầy bổn sư còn hướng dẫn các Tăng chúng cần thực tập lạy sám pháp, ở bốn phương để nhớ nghĩ về cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp của mình.
Có ba trường hợp sau:
Trường hợp chúng ta lễ vái (chắp tay xá) cha mẹ đang còn sinh tiền thì khác.
Trường hợp chúng ta kính lễ (cúi đầu lạy xuống) khi cha mẹ đã quá cố.
Trường hợp đảnh lễ dưới con mắt Vô tướng, để thực tập hạnh buông bỏ ngã chấp.
Trường hợp lạy có y pháp và không đắp y pháp.

Thời Đức Phật còn tại thế, ngày Ngài đi du hóa cùng với Thánh chúng, khi đi ngang qua vệ đường đồng vắng, Ngài thấy đống xương khô, bỗng dưng Ngài sụp xuống, lạy đống xương khô ấy, rồi khóc. Sở dĩ Ngài lạy đống xương một cách cung kính như vậy là do Ngài có huệ nhãn, thấy đây là tiền bối, cha mẹ, tổ tông trong nhiều đời của mình và Đức Phật cho biết dưới mắt phàm phu, đống xương khô vô nghĩa, không có giá trị gì. Nhưng theo tuệ nhãn của Phật quán sát thì trong đống xương khô tiêu biểu cho một xã hội của người chết, có mối tương quan tương duyên mật thiết với chúng ta, những người đang sống. Thật vậy, theo vòng quay của sanh tử luân hồi vô tận, chúng ta đã từng thay hình đổi dạng không ngừng; thay nhau làm cha mẹ, ông bà, vợ chồng, con cái, bạn bè, thân thù... đủ thứ cách mà chúng ta vì vô minh che lấp nên không hề nhớ, không hề biết.
Vì vậy, khi chúng ta nhìn trở lại xã hội mình đang sống, thấy được mọi người đều có quan hệ mật thiết với nhau, ai cũng có thể là cha mẹ, bà con thân thương của ta. Từ đó, chúng ta sanh tâm kính trọng những người xung quanh như cha mẹ. Chẳng những với mọi người mà cả đối với mọi loài chúng sanh trong tứ sanh lục đạo, chúng ta cũng kính trọng được. Điển hình như Ngài Mục Kiền Liên nhìn bà Thanh Đề là ngạ quỷ cũng vẫn thấy là mẹ của Ngài, tức chúng sanh ở trong ba đường ác mà vẫn thấy là mẹ.
Phật còn dạy! Ngài lạy là lạy những bậc tiền bối, vì trong đống xương khô ấy có hài cốt của lục thân quyến thuộc và có thể ngay cả của chính mình trong nhiều đời trước.
Đứng bên đống xương bừa bãi, hình ảnh bà con quyến thuộc bao đời trôi lăn trong sanh tử hiện ra, gợi nguồn cảm xúc vì ân nghĩa tương thân, về đạo lý làm người đối với các đấng sanh thành dưỡng dục.
Vì vậy ân đức của cha mẹ được ví như trời cao, bể cả, núi rộng sông dài. Chúng ta là những người con Phật, cần thể hiện tinh thần hiếu hạnh, báo đáp thâm ân làm sao cho tròn chữ hiếu mới đúng là đạo làm người.
Một việc làm của người xuất gia khi nghĩ về cha mẹ, không chỉ đơn thuần lễ lạy, chu cấp thuốc thang mà còn khuyên cha mẹ bỏ tà quy chánh, tín tâm cúng dường Tam bảo, tinh tấn niệm Phật và chuyển hóa nghiệp xấu ác, khổ đau. Giúp cho cha mẹ gieo thiện duyên với các bậc thiện hữu tri thức và tự biết đường đi, nẻo về bến giác.
Vào dịp tết năm Tân Mão, tôi cùng với Thầy giáo thọ về Từ đường để thăm bệnh duyên của thân sinh Hòa thượng. Vài ngày sau cụ phát bệnh khá nặng nên Hòa thượng phải ở lại chăm sóc và động viên tinh thần. Trời xứ Huế hôm đó rét, mưa lạnh. Nhà chỉ có Hòa thượng là con trai lớn và một thêm một người em trai thì ở xa chưa về nên khi mà thân sinh đi tiểu tiện xong, Hòa thượng cũng làm bổn phận của một người con là đi đổ nước tiểu, lau sàn nhà. Chính vì nghĩa cử ấy mà Hòa thượng đem đạo đến gần được với cha mẹ, làm cha mình sáng đạo và cũng làm cho tôi nhớ tới hình ảnh Đức Phật lúc về thăm lại Phụ vương, khi tuổi già nua của vua Tịnh Phạn sẽ không còn được bao lâu nữa.

Vẻ Đẹp Phật Pháp

Áo vải...!
Rong chơi giữa chốn vừa thiền
Hoa tâm hé nở trong miền Tăng thân
Nụ cười nuôi lớn chân tâm
Đường về ngập ánh Áo vàng nguyên sơ

Ký ức: Những đứa con đi Tu

Hồi đó khoảng tháng 5 năm 2007, con không biết nhân duyên nào, hình ảnh gì mà đã làm cho hạt giống xuất gia của con hé mở từ đây? À chính là do một sư huynh đến với đường đạo sớm (TPB). Thầy đã có cơ hội trở về thăm quê không biết là lần thứ mấy nữa. Và chính vào ngày đó, giờ đó, thời gian cũng đó Thầy đã chỉ dẫn cho con vào con đường Phật Pháp, hành trình của chuyến đi của con bắt đầu từ đây với bao nhiêu điều mới mẽ, đầy sự mong đợi và khát khao của một chuyến đi dài ngày. Đường đi bắt đầu từ đây sẽ đầy nhọc nhằn và gian lao, ngày mà con đi con không biết là con sẽ đi đâu nữa, và sau này sẽ làm chi đây, ngày đầu xa nhà đầy sự hoang mang và lo lắng từ đây.

Sau năm năm rời xa gia đình, bạn bè, thầy cô và những con đường lối cũ mà con đã quen thuộc từng bước dạo đi nay sẽ đi vào quên lãng. Bây giờ đây, sau những ngày con sống trong tự viện, con giờ này là một người con của Phật, mang trên mình một chiếc áo Nâu với bao nhiêu lý tưởng mới mẽ và lạ lùng của cửa Phật đang chờ đợi con sẵn sau lưng. Con rất cảm ơn Ba Mạ đã hoan hỷ cho con xuất gia, và Thầy chính là người dẫn con vào con đường Phật Pháp, con rất cảm ơn những ai đã tác thành cho sự mới mẽ của con. Sau bao nhiêu năm tu tập, sống và làm việc cùng với Tăng thân con rất lấy làm hạnh phúc, con đã thực sự tìm ra con đường rồi. Giờ đây con đang tu tập tại một đất nước có nền Phật giáo hưng thịnh và sùng đạo của Phật tử, cách đất nước Việt Nam khoảng một ngày đường, đó là đất nước ThaiLand. Con thấy sống và tu học ở đây rất là thuận tiện cho đường tu của con, những cuộc sống mới, một thứ ngôn ngữ mới, những thức ăn, uống đều khác với con người tu đến từ Việt Nam. Những cái này không làm cho con mất đi cái lý tưởng, chính là nhờ những người huynh đệ cùng tu và sống chung với con sẽ không làm cho con nãn chí, con sẽ cố gắng ngày đêm luôn thắp sáng ý thức những lý tưởng ban đầu.

Đã có đường đi rồi, con không con lo sợ nữa.

Con xa nhà, và Thầy hàng dặm đường nhưng trong con luôn hướng về gia đình huyết thống, và người Thầy tâm linh đã khích lệ và ủng hộ cho lý tưởng của con, con chưa bao giờ bị xói mòn hạt giống Bồ đề, chưa bao giờ có ý định, hay khởi niệm là rời bỏ con đường tu cả. Con thấy những ngày tháng ở chung, ăn chung, tu chung với huynh đệ một chùa sao mà hạnh phúc vậy. Sau khi ở Thailand đã hai năm, ba tết thì Tăng thân đã cho con trở về Việt Nam thăm quê. Về đến quê lòng con đầy ngập những kỷ niệm thời thơ ấu, đã dâng lên tràn ngập những hạnh phúc và may mắn biết chừng nào, khi con vẫn thấy hình bóng của Mạ ra trước cổng đón, tay bắt mặt mừng đầy rạng rỡ. Con sung sướng biết chừng nào khi vẫn còn thấy Mạ còn đó cho con, Ba Mạ vẫn còn đủ khỏe mạnh như ngày nào, những nét mặt của Mẹ thì khác hẳn so với những ngày tháng con còn ở nhà. Lúc con ngồi trên xe để về Việt Nam lòng con đầy sự hồi hộp, nôn nao, xôn xao, không thể kể xiết được, một phần là nhớ gia đình, và nhớ Thầy trò lâu nay không gặp nhau, chỉ có nói chuyện qua điện thoại thôi!

ảnh: Huynh đệ thăm nhau tại Sài Gòn 12 - 2012

Người dân Việt Nam nói câu: “ông bà đi đâu, con cháu đi đó”. Cũng đúng thôi phải không thưa Thầy? Con có trong Mạ, Mạ có trong con, dù con đi đâu, ở đâu thì Ba Mạ vẫn theo con đến đó, nên con rất hạnh phúc và sung sướng khi vẫn còn có Ba Mạ đang có mặt cho con. Và cũng là chuyến xe đó, con rất khao khát về thắp một nén hương cho Thím để hồi tưởng lại những ngày tháng Thím một mình tận tình chăm sóc đến bảy đứa con, trong đó có một người con đi Tu (TPB). Chính nhờ Thầy đi tu trước nên con mới có ngày hôm nay.

Ngày mà Thím mất trong lòng Pháp Chuẩn (PC) rất áy náy, bồi hồi và xúc động làm sao, khi nhận được tin Thím đã ra đi khi cái tuổi năm mươi chín còn rất là trẻ. Tuy là PC không có về tham dự tang lễ cùng với Thầy được, nhưng PC ở bên này (Thailand) vẫn có một ngày cầu siêu hộ niệm cho Thím, mỗi ngày PC đều đi thiền, ngồi thiền để gửi những bình an đến Thím. Giờ thì thật sự Thím đã đi rồi! Kể từ đây PC sẽ không bao giờ thấy hình hài của Thím nữa mà chỉ nhìn thấy qua di ảnh, qua ký ức còn lưu dấu trong PC mà thôi. Thím không còn hiện hữu nữa ở thân tứ đại nơi cõi Ta bà này nữa rồi. Trong khói hương quyện tỏa của buổi sáng mà Tăng Thân làm lễ cho Thím. PC thấy hình ảnh Thím ngày xưa hiện lên trong đầu, thấy Thím cười rất tươi khi PC còn ở nhà. Với cái tuổi năm mươi chín, một thời sống trọn vẹn, nghĩa tình cho các con, các cháu và các cô bác, anh chị trong dòng họ của Thím. Một đời Thím tận tụy nuôi dưỡng bảy đứa con, đứa nào cũng lớn và thành đạt cả rồi, giờ này Thím còn sống thì cháu chắt đầy rồi nhỉ!.

Chú mất sớm nên một tay Thím quán xuyến tất cả mọi việc từ trong ra ngoài, từ chuyện dựng vợ gã chồng, các đứa con của Thím thấy người nào cũng có một cuộc sống sung túc và đầy những niềm vui riêng và Thím đã có hai người con gái giờ này đang sống và làm việc ở tại Mỹ, và kế đến nữa là thầy Pháp Bảo hiện nay đang tu học tại Thiền viện Vạn hạnh và người con út hiện nay đang làm việc tại Canada. Khi mà Thím còn sống vẫn luôn luôn theo dõi từng đứa con để động viên, khích lệ khi mà anh chị em trong nhà không có sự hài lòng. PC giờ này cũng là người con Phật, theo cái hiểu, cái biết về chuyện vô thường của sanh diệt. Ai sanh ra và lớn lên rồi có một lần sẽ nhắm mắt, không còn hiện hữu nơi cõi Ta bà này mãi mãi đâu, phải không thưa Thầy? Ai cũng phải trải qua những chặn đường như vậy, kể cả những người có tu, có biết về đạo hay là những người không xuất gia đều phải sanh tử cả. Biết là thế nhưng là người thì làm sao không có tình cảm, không xót xa khi phải đối diện trước sanh ly tử biệt?, PC cũng cảm thấy buồn, cũng cảm thấy xúc động khi nghĩ đến Ba Mạ một ngày nào đó rồi cũng giống hệt như Thím mà thôi. PC viết những dòng này khi Thím đã không còn sống nơi cõi Ta bà nữa để dâng lên Thím bằng cả tấm lòng chân tình là mong Thím luôn luôn hướng đến Tam bảo tuy là không còn.

Khi PC nhận diện ra sự thật, PC ở bên này ( Thailand), tuy vừa buồn, vừa mừng cho Thím vì hôm Thím đi và những ngày diễn ra tang lễ của Thím có rất nhiều quý thầy, sư cô, quý Phật tử đến và không hẳn ở trong nước mà cũng có ở ngoài nước như : Tăng thân Làng mai ở Thailand mà PC đang tu học cũng có làm lễ hộ niệm và cầu siêu cho Thím, PC thấy Thím rất hạnh phúc nếu mà Thím biết được chuyện như thế. Ai thấy cảnh ấy cũng đều hoan hỷ và mừng vui cho Thím có được những duyên lành khi lâm chung. PC thấy Thím đã sinh ra một người con rất tuyệt vời (TPB), chính nhờ Thầy mà mọi tang lễ được diễn ra thật là trang nghiêm biết chừng nào. PC nhìn qua những hình ảnh mà ai đó bỏ trên trang nhà Vẻ Đẹp Phật Pháp hay là trang Trà thơm online và những trang khác đầy những hình ảnh về tang lễ của Thím, PC thấy thế mà ấm cả lòng tuy không về được. Có lẽ một đời Thím sống Thánh thiện luôn sống hài hòa, minh mẫn với mọi người nên nhờ phước báu ấy mà Thím đã vun trồng hồi còn sống. Nhớ đến Thím, PC nhớ cả những lời dạy của Thầy, nhớ những ngày mà Thầy dẫn dắt PC vào con đường của thiền môn, PC sẽ cố gắng tu học tinh chuyên, sống tốt đẹp với mọi người và tinh tấn hơn trên con đường hành trì giới luật

ảnh: Thiền sư Nhất Hạnh và Thầy Pháp Bảo

“Giới luật chính là thầy bất diệt trong mạt pháp điêu linh”.

Pháp Chuẩn rất khao khát gia đình, anh em, chú bác dòng họ mình luôn luôn tiếp tục công trình xây dựng và phụng sự Tam bảo như con đường của Bác và Thím, và Ba Mạ, anh chị trong dòng tộc mình luôn luôn ủng hộ và nâng đỡ hơn cho những người còn rời xa nhà “Thế tục” để Thầy và PC có cơ hội phụng sự Tăng thân và hoằng dương Phật Pháp độ chúng sanh!.

Kính bút,

Pháp Chuẩn Pak chong_ Thailand.

Đại đức Đồng Nhãn và Thầy Pháp Bảo tại Yên Tử

Áo vải...!
Rong chơi giữa chốn vừa thiền
Hoa tâm hé nở trong miền Tăng thân
Nụ cười nuôi lớn chân tâm
Đường về ngập ánh Áo vàng nguyên sơ.

Xin cảm tác mến tặng Sư đệ, anh Pháp Chuẩn nhân mừng ngày Đệ thụ phong lên "Vầng Trăng Tăng Già" ngày 25 -02-2012, ở trong Đại Giới Đàn Tình Huynh Đệ - Làng Mai- Pháp Quốc.


Thiền Sư Thanh Từ và Thầy Pháp Bảo tại Trúc Lâm Viện

http://huongtubi.org/index.php?/tho/ta-i-tim-mt-coi-rieng.html

Giác Đạo-Dương Kinh Thành

"Như suối nguồn vô tận, đề tài nói về công ơn cha mẹ không thể cạn ý khô lời, nhất là ở lãnh vực Văn học-Nghệ thuật. Chỉ riêng khía cạnh thơ ca thôi cũng đủ làm chúng ta choáng ngợp, cảm thấy bé nhỏ dưới bầu trời vô tận của mênh mông tình mẹ..."

“Quả đất gọi là nặng
Nhưng lòng mẹ nặng hơn nhiều”

Như suối nguồn vô tận, đề tài nói về công ơn cha mẹ không thể cạn ý khô lời, nhất là ở lãnh vực Văn học-Nghệ thuật. Chỉ riêng khía cạnh thơ ca thôi cũng đủ làm chúng ta choáng ngợp, cảm thấy bé nhỏ dưới bầu trời vô tận của mênh mông tình mẹ. Với đạo lý nhà Phật, điều đó càng trở nên thiêng liêng và ý nghĩa hơn. Người con Phật đã biết ý thức rất sớm về điều thiêng liêng ấy nhờ vào nền tảng luân lý nhà Phật, do đó ai bất hiếu với cha mẹ sẽ chẳng bao giờ thấy được đạo. Thế nên những tuyên ngôn: “Sanh đời không có Phật, thờ cha mẹ tức thờ Phật”, bởi vì “Cha mẹ hiện tiền như Phật tại thế”. Bởi vậy, “Điều thiện cao tột không gì bằng hiếu, điều ác tận cùng không gì bằng bất hiếu”. Tuyệt vời thay chúng ta đã có một vị giáo chủ tuyệt vời như thế-có gì đâu sanh ra trong cõi đời này ai cũng có cha mẹ, chứ không thể từ trên trời rơi xuống hay dưới đất chui lên! “Nước sông nọ có nguồn mới chảy, Hạt thóc kia có cấy mới lên, Phàm phu cho đến thánh hiền, Vì không cha mẹ sao nên thân người”, như một bài sám văn đã viết.

Chỉ tiếc rằng người viết bài này không phải là một nhạc sĩ hay một nhà văn, nhà thơ để có thể đóng góp phần nhỏ bé của mình vào văn đàn và nghệ thuật để ca ngợi tình mẹ, nhất là nhạc sĩ của Phật giáo để diễn bày qua đó bằng pháp thoại lung linh, mang chút tham vọng để chuyên chở một đạo lý tột cùng của con người từ khi hãy còn chín tháng cưu mang. Và chỉ biết rằng không phải là một nhà hoạt động văn hóa Phật giáo để nhìn xuyên qua khe nắng trần gian, góp nhặt từng hạt ngọc đời, đánh giá, tuyên dương văn-thơ-nhạc-họa đích thực của Phật giáo. Có hay không người viết vẫn là một chủng tử bé nhỏ trong rừng văn học nghệ thuật, từng ngày từng giời đang học đòi làm một Phật tử. Do đó những dẫn dụ được trình bày dưới đây không phải là một công việc tổng hợp hay đi tìm nhân tố điển hình, mà là theo chủ quan-cảm nhận mang tính cách cá nhân. Còn lại như đã nó đó là hoạt động của một nhà văn hóa Phật giáo.

Trong lãnh vực âm nhạc, đã có biết bao nhiêu bài ca về công ơn cha mẹ. Có bài đã trở nên tiêu biểu, đã đi sâu vào lòng người nhiều thế hệ. Ở đây chỉ xin xét đến khía cạnh khác, đó là tín đạo lý Phật giáo và đạo đức dân tộc trong một vài bài hát người viết có được trong “kho tàng” CD, cassette hiếm hoi của riêng mình.

Người trước tiên không thể không nhắc đến là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, nhắc đến ông không vì sự kiện ông vừa tạm biệt “Một cõi đi về”, mà trước hết qua một quãng đời niên thiếu của người viết lúc còn sinh hoạt Phật tử, các bài hát “Da vàng” đã ghi đậm dấu ấn khó phai. Và qua rất nhiều tư liệu về cuộc đời cũng như sáng tác của ông, người ta cũng đã hiểu thêm về nhiều điều. Phần lớn những điều đó đều gắn liền vào mỗi ca khúc trong hơn năm, sáu trăm ca khúc của ông, vì đó là sự thật về chính cuộc đời cũng như chính cảm nhận của ông “khi cần thì viết ra, không cần tưởng tượng chi cả”(1) đến nỗi nhạc sĩ Xuân Khoát phải thốt lên “Chữ của Trịnh Công Sơn như sãn có từ trong túi”. Qua đó lần dõi chúng ta sẽ thấy: Trịnh Công Sơn sáng tác ban đầu cho đến khi mất theo trình tự như sau: 1. Ngẫu hứng và ảnh hưởng, 2. Bắt đầu định hướng dân tộc, ý thức cuộc đời nô lệ, 3. Nhận thức rõ chân lý duyên sinh và rẽ ngoặc đi một đường thẳng cho đến ngày nhắm mắt. Vì mỗi sáng tác là một phần sự thật cuộc đời ông nên công chúng đều quý yêu. Điều trân trọng quý yêu ấy dừng lại ngay tác phẩm đầu tay “Ướt mi” là một tác phẩm trữ tình, lãng mạn, điều đó quá rõ, nhưng vì là “một phần sự thật” nên ít ai còn biết thêm rằng nguyên do ra đời bài hát ấy xuất phát từ lòng thương cảm của một đứa con dành cho người mẹ đang mang bệnh lao giai đoạn cuối, mà người con gái đó hằng đêm đi hát để kiếm tiền về nuôi mẹ bằng một bài hát “tủ”: “Giọt mưa thu”, mỗi lần hát cô đều khóc! Đó là ca sĩ Thanh Thúy năm ấy cô chỉ mới 16 tuổi đời. Trịnh Công Sơn cho đó là “giọt nước mắt rất thuần khiết của một người con gái” (2). Một người con trai 19 tuổi lần đầu cảm xúc để viết lên nhạc phẩm đầu tiên, lại nói về sự hiếu thảo, sao không đáng trân trọng và quý yêu, nào phải đâu đắm say lụi tình. Trịnh Công Sơn khóc cho mẹ người để nhiều chục năm sau bên mộ cha ở Huế ông khóc cho “Một cõi đi về”, và sau nữa bên mộ mẹ mình ở Thủ Đức ông khóc cho “Đường xa vạn dặm”, trong đó bên mẹ ai cũng là một đứa trẻ, cũng vẫn nũng nụi mẹ qua lời ca như trách móc: “Gối lạnh chăn mềm-mẹ bỏ tôi đi, giấc ngủ chưa tròn-mẹ bỏ tôi đi. Mẹ bỏ tôi đi đường xa vạn dặm...”

“Tôi ôm con sáo bé bỏng của tôi, theo cha dọc bờ sông trắng xóa. Hồng Hà mùa thu đầy gió và tiếng sống...” (3). Con sáo ở đây tức là nỗi niềm của người mẹ khi đưa “cha và anh hai vượt sông Hồng ở những năm 30-40...” nên lời ca sau đó là “thương cha, con sáo thủy chung của mẹ. Thương anh con sáo bứt ruột chờ mong...” và vì nỗi lòng thương mẹ nên “con sáo sang sông bạt gió và sóng, con sít thương ai, tìm ai...” Phải đợi đến hơn mười năm sau kể từ khi được nghe bài hát tôi mới cảm nhận những điều có thật của người nhạc sĩ từng một thời vang tiếng “ngẫu hứng”. Vâng chúng ta đang nói đến nhạc sĩ Trần Tiến mà bài hát “Phố nghèo” (4) đã để lại dư âm rất da diết và lắng đọng, đã khiến phải nhắc đế trong bài hát này, trong khi âm nhạc Phật giáo chưa đủ sức tự khẳng định mình và đó đây đã xẩy ra tình trạng manh nha, ỷ lại, xa rời vốn dĩ nơi mình sinh ra và lớn lên. Với nhạc sĩ Trần Tiến, anh đã quay về từ câu chuyện: “Bắt đầu từ con phố bên sông chảy quanh kinh thành cổ...Sau 30 năm du ca trở về thăm phố cũ, bỗng thấy mình cần dừng bước lãng du để thực hiện một số đĩa nhạc, dẫu đã muộn nhưng cũng đủ ghi lại đôi nét ký họa về những con đường đi qua, những người đã gặp chung cuộc hành trình trong cuộc đời ngắn ngũi này. Đó là bức thông điệp của người con gởi mẹ quê nhà, của người con hàng vạn kiếp phôi phai...” Nhạc sĩ đã thổ lộ như thế và CD này anh ví như một bức Tự họa đầu tiên mang tên: Phố nhỏ ven sông. Rất thật, rất gần gũi bởi đó là những chuẩn mực đạo đức dân tộc đáng phải ca ngợi trước tiên.

Với bài “Phố nghèo” chúng tôi cho đây là ca khúc chính của CD Tự họa của anh. Bởi vì nơi đó có mẹ, có tuổi thơ của những người thân của mình, phố Hàng Buồm Hà Nội. Ký ức của anh màu nâu, cái màu của đất, bằng ánh mắt “Tâm Địa Quán” mang định chủ thể duyên sinh nhà Phật: Chúng sanh chỉ tâm di như đại địa, Ngũ cốc ngũ quả tùng đại địa sanh. Ngay như tâm tam giới cũng mang tên đất: Dĩ thử nhân duyên tam giới, duy tâm tam danh chi địa. Và cái màu nâu chư tăng chọn may Tăng phục ý nghĩa như thế nào, cũng như ông bà ta chọn màu nâu làm đồng áng ra sao hẳn chúng ta đã rõ. Nhà thơ Nguyễn Duy trong “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” có viết “Mẹ ta không có yếm đào, Nón mê thay nón quai thao đội đầu, Rối ren tay bí tay bầu, Váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa”. Vì vậy, rất dân tộc, rất thâm thúy khi nhạc sĩ Trần Tiến viết lời ca “Phố buồn nâu, mái ngói buồn nâu, cà phê đắng rơi từng giọt nâu buồn... phố của tôi, thơ ấu của tôi...” càng ray rứt hơn khi nhạc sĩ thốt lên “Ở nơi đó tôi còn nhớ mẹ của tôi, bao đêm trắng nhìn về phía chân trời, mẹ cầu kinh đức Phật Quán Thế Âm, phù hộ cho con phiêu bạt trở về...”. Đất nước chiến chinh bà mẹ nào cũng thế, cũng có nỗi đau riêng mình, nhạc sĩ Trần Tiến nhìn sang hàng xóm và nhớ lại: “Năm 1972 hai trái bom đi sai mục tiêu, đã ném vào cái phố nghèo bé bỏng của tôi...chỉ thương anh hàng xóm ra đi không bao giờ trở lại nữa. Nhớ về để nghe CD tình ca này tôi viết tặng anh.Tặng cả tuổi trẻ chúng ta dàn hàng ngang gánh đất nước trên vai...” (5). Dù mẹ chẳng còn, bạn bè tan tác nhưng phố cũ và kỹ niệm còn đó trong nghĩa tình đạo lý dân tộc, làm nên nguồn cảm hứng bao la này qua bàn tay “họa sĩ” của anh.

Cũng vậy, sẽ không còn những chốn dấu yêu để “trở về làng quê, bao tháng năm xa xôi cách biệt...Ngược dòng thời gian bao dấu yêu xa xôi trở về. Nhớ hoài năm nào mẹ gian nan giải nắng dầm sương, nhọc nhằn chăm lo cho đàn con, miếng ăn giấc ngủ từng đêm, những khi gió lạnh bên nhà tranh nghèo ấm êm tình thương...” (6). Dẫu rằng cảnh cũ làng xưa còn đó nhưng nó sẽ càng để lại dấu ấn sâu đậm hơn khi đấng sanh thành đã mất. Vì vậy, thương sao lời thương tưởng “Hỏi từng bờ đê gió hiu hiu mẹ tôi đâu rồi, Mái tranh im lìm nhìn hàng tre ngơ ngác buồn hiu, Mẹ hiền yêu ơi suốt đời con, mãi luôn khắc ghi ơn mẹ cha, sẽ không phai nhòa, tháng năm êm đềm sống bên mẹ cha...” (6). Người nhạc sĩ có những lời ca rất đẹp này vẫn là ca sĩ còn rất trẻ. Đó là Ngọc Sơn, nhắc đến Ngọc Sơn người viết tự đặt câu hỏi: Nếu cùng với những ca từ đẹp về mẹ ấy mà người sáng tác không phải Ngọc Sơn thì chúng ta có liệt kê vào loại nhạc “sến” không? Có lẽ là không. Vì vậy nhân đây xin nói lên suy nghĩ chủ quan rằng cái gọi là “nhạc sến” ấy chỉ xuất hiện từ thập niên 80 (7) nhằm ám chỉ cho loại nhạc “lụy tình-rên rĩ-ướt át...” khi những dòng nhạc mới đang thịnh hành (Country, Pop, Rock, Rap...) hoặc cách tân theo chiều hướng mode để chứng tỏ mình tiến bộ. Kỳ thật, chưa có một luận cứ khoa học nào là “không phải sến”. Rõ ràng đây là vấn đề thuộc về thị hiếu-thẩm mỹ âm nhạc theo từng sở thích riêng, mỗi một dòng nhạc đều có một bộ phận công chúng khác nhau. Điều đó thể hiện tại sao nhạc “sến” vẫn tồn tại và đặc biệt là chính nó dễ dàng chuyển tải tình cảm hơn bất cứ dòng nhạc nào, ngay cả với giới thưởng thức bình dân nhất. Theo suy nghĩ riêng, chỉ có khác nhau chăng “sến” là ở từ ngữ thể hiện trong dòng nhạc, chứ tự thân nhạc đã là không “sến”. Ngay như bản thân chúng tôi, khi thư thả nghe nhạc giao hưởng, tình tứ hơn thì nghe nhạc Jass, rộn ràng thì nghe Pop, Rock hoặc Rap...và còn có các thể loại tình ca khác nữa nếu có chút lãng mạn, trữ tình. Trình bày sơ lược như trên để hiểu đôi chút về Ngọc Sơn, đặc biệt để trân trọng về một tấm lòng dành cho bậc sanh thành qua ca khúc của anh. Tấm lòng đó hoàn toàn hợp đạo lý dân tộc, không “sến” chút nào. Anh đi lên từ bài “Lòng mẹ” đầu tiên của anh rồi đến “Tình cha” để hôm nay thật bất ngờ khi nghe sáng tác “Đạo làm con”, chúng tôi trộm nghĩ không có một bài nhạc nào mạnh dạn viết: “Con quỳ con lạy mẹ cha, ơn cha nghĩa mẹ con đền được là bao...” Chỉ riêng từ “Con quỳ con lạy mẹ cha” thôi cũng đủ nói lên đạo nghĩa dân tộc. Cái quỳ, cái lạy sao mà sâu xa đến vậy, không cần phải diễn đạt nhiều lời hoa mỹ. Và chúng tôi thêm một lần trân trọng Ngọc Sơn trong ý nghĩa báo ân cha mẹ qua âm nhạc. Chuyện riêng tư, danh vọng, tiền tài của anh không là mục tiêu bài viết này.

Tất nhiên “Hiếu thế tục chỉ hầu cơm nước, Hiếu Phật đà giải thoát luân hồi”, nên nếu có những lời ca đặc thù Phật giáo như: “Mẹ là từ bi bồ tát hiện xuống bên con, mẹ là hạt mưa hạt nắng rực sáng muôn hoa...Mẹ là chuông chùa thắm đầm ấm muôn nơi, tình mẹ là hương ngàn hoa dịu mát không gian...” thì khó tìm được một nhạc sĩ như Giác An trong bài “Mẹ” ấy. Hơn thế nữa, để có một người mẹ trong Phổ Môn khi nhạc sĩ Bửu Ấn viết: “Mẹ tôi, mẹ tôi muôn loài, không sinh, không diệt tên là Quán Âm...” (Bài “Quán Thế Âm Bồ Tát”) lại càng hiếm hơn. Lấy thời điểm gần nhất từ bài “Mẹ” của nhạc sĩ Giác An đến nay đã 10 năm, vẫn chưa có được bài nhạc nào tương tự để có thể đặt vấn đề phát huy âm nhạc Phật giáo. Câu hỏi đến nay vẫn còn nguyên giá trị thách thức trách nhiệm của các nhà hoạt động văn hóa Phật giáo hiện thời.

GĐ.D.K.T

Chú Thích

1. Trả lời trong chương trình “Tác giả-Tác phẩm” FM 99.90. Đài TNND-TP HCM, 2000.
2. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn -Một cỏi nắng thuần khiếp cùng cuộc đời- Ngộ Ngọc Ngũ Long SGGP-10/5/1998.
3. Lời bài hát Ngẫu hứng sông Hồng của nhạc sĩ Trần Tiến.
4. CD Tự họa gồm 10 ca khúc tự thuật theo dạng truyện hồi ký của NS Trần Tiến, do chính NS và người cháu gái là ca sĩ Trần Thu Hà hát. CD Phương Nam Phím phát hành tháng 10/1999.
5. Bài Người thích tình ca do chính tác giả hát trong cùng CD Tự họa.
6. Lời bài hát Tình mẹ của Ngọc Sơn.
7. Trước 75, người ta chỉ đánh giá một loại nhạc đó là “Nhạc thương mại” gần như lên án như kiểu gọi “sến” hiện nay. Tuy nhiên xét về hoàn cảnh xã hội đương thời, chinh chiến, bắt lính...thì không thể đáng giá theo người yêu thích “Nhạc thương mại”, khác xa bài hát về “lính Cộng hòa”

Đọc thêm về tác giả:

Đôi Dòng Tri Tưởng Một Người Ân

http://www.daophatngaynay.com/vn/tin-tuc/trong-nuoc/10191-Doi-Dong-Tri-Tuong-Mot-Nguoi-An.html

Copyright © NhocLak.Com .