
"Thời gian không đợi ai. Kể từ khi chào đời, chúng ta cứ từng phút từng giây tiến đến gần đoạn kết, về cái chết. Đời sống con người là như vậy, thế giới này, vũ trụ này, tất cả đều như vậy cả…
Tâm của chúng ta đây, cho dù hiện tại chứa đầy vô minh và khổ đau, vẫn có thể chuyển thành tâm giác ngộ của một đấng Phật đà. Nếu nói về vật chất tiền tài thì đúng là nên tri túc, đừng ham muốn. Nhưng trên lĩnh vực tâm linh, vì tiềm năng của tâm thức con người không giới hạn mà đời sống thì lại có hạn, cho nên phải cố gắng tối đa, tận dụng khoảng thời gian sống ngắn ngủi để làm hết những gì tâm có thể làm được, nhờ kiếp người quý giá này"…
Lời Đức Đạt Lai Lạt Ma
"Trong cuộc sống, có những điều mà ai cũng phải đương đầu đó là được và mất, hạnh phúc và khổ đau.Vậy, trong lúc thăng trầm ấy, điều mà ta nên làm được là giữ tâm bình thản".
* Narada Maha Thera
Mong ước tái sinh làm cây thông của Nguyễn Công Trứ
TÂM HỶ
Trên tập san Pháp luân số 80, một tác giả đã viết bài báo dài gần 10 trang giấy để giải thích một “ý thơ” của Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858): “Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.” Sau khi trích dẫn nhiều thơ văn để tìm hiểu Nguyễn Công Trứ qua ba giai đoạn của cuộc đời, người viết sử dụng nhiều khái niệm, nhiều thuật ngữ triết học của Phật, Khổng và Lão để hiểu ý nghĩa của câu thơ và kết luận: Nguyễn Công Trứ mang “ tâm trạng bi quan ngán ngẩm cho kiếp người trôi nổi vật vờ trên dòng đời dâu bể…”, lời thơ “chỉ còn là tiếng thở dài đầy bất lực và thoái thác đối với kiếp người”, ước muốn làm cây thông “chỉ là một ước mơ hão huyền xa vời trong kiếp Tái sinh – Luân hồi…” Qua bài viết này, theo một hướng tiếp cận khác, chúng tôi phân tích bài Nhàn ngâm trích dẫn trọn vẹn dưới đây để giải thích lý do Nguyễn Công Trứ không muốn làm người và tìm hiểu ý nghĩa Mong uớc tái sinh làm cây thông của nhà thi sĩ:
“Ngồi buồn mà trách ông xanh,
Khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười.
Kiếp sau xin chớ làm người,
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.
Giữa trời vách đá cheo leo,
Ai mà chịu rét thì trèo với thông.”
Nguyễn Công Trứ là con người hành động. Qua ba giai đoạn của cuộc đời là hàn vi, xuất chính và hồi hưu, tác giả đã sống đúng lẽ xuất xử của nho gia để hoàn thành chương trình hành động – lý tưởng sống nhập thế tích cực của kẻ sĩ. Nhưng ở một lúc nào đó vào cuối đời, đã xuất hiện một Nguyễn Công Trứ “Ngồi buồn mà trách ông xanh”, một Nguyễn Công Trứ không muốn làm người mà chỉ muốn làm cây thông ở kiếp sau. Lý do không muốn tái sinh làm người đã được tác giả nêu rõ :
“Khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười.”
Cuộc đời thì bao giờ cũng vậy, luôn luôn có đủ niềm vui và nỗi buồn. Sống trong cuộc đời ấy, được thành công, người ta thường vui sướng nở nụ cười mãn nguyện, gặp thất bại, người ta có thể khóc để cho tất cả buồn khổ trôi theo dòng nước mắt. Dù đã sống thủy chung, gắn bó với cuộc đời, Nguyễn Công Trứ đã không thể khóc, cười một cách thoải mái và tự nhiên như thế. Ngoài 40 năm sống trong cảnh nghèo của một hàn sĩ, 30 năm xuất chính tiếp theo là khoảng thời gian Nguyễn Công Trứ chịu nhiều thăng giáng liên tục để nếm trải đủ nhục vinh, khóc cười lẫn lộn trên hoạn lộ, từ đỉnh cao của danh vọng là chức Tổng đốc Hải An đến “hố thẳm” của thất vọng là thân phận người lính thú ở Quảng Ngãi. Thời hưu trí, dù đã ra khỏi “trường danh lợi vinh liền nhục” nhưng Nguyễn Công Trứ vẫn không thoát được “cuộc trần ai khóc lẫn cười”. Năm 1852, nhớ công ơn Nguyễn Công Trứ đã mộ dân khai khẩn đất hoang để lập nên xóm làng trù phú, dân huyện Tiền Hải dựng sinh từ để kỷ niệm rồi mời ông ra chơi và đón tiếp trọng vọng như một vị thánh sống. Tất nhiên là Nguyễn Công Trứ đã rất vui lòng khi nhìn thấy thành quả mỹ mãn của công cuộc dinh diền mà ông đã thực hiện từ hơn 20 năm về trước. Nhưng tình cảnh oái oăm, trớ trêu của “khi vui muốn khóc” đã tái diễn ở đây. Vì có tên thị vệ sàm tấu Nguyễn Công Trứ có “dị chí” khi để cho dân chúng tổ chức đón rước linh đình, vua Tự Đức nghi nhờ lòng trung thành của ông, cho triệu hồi vị công thần về kinh để xét hỏi cho ra lẽ. Nhờ nhà vua còn có đủ sáng suốt để hiểu rõ tâm can của vị lão thần nên Nguyễn Công Trứ đã may mắn thoát khỏi cái chết bi thương và oan uổng. Sống qua một đời người có quá nhiều buồn vui, khóc cười lẫn lộn như vậy, vào lúc thư nhàn, Nguyễn Công Trứ có lý do để “ngồi buồn” mà “ngán ngẩm cho kiếp người trôi nổi”. Nhưng nhà thơ của chí nam nhi không bao giờ có “tâm trạng bi quan”. Bởi lẽ, như thơ văn và cuộc đời của ông đã chỉ rõ, Nguyễn Công Trứ luôn luôn sống lạc quan tin tưởng, sẵn sàng đối đầu với nghịch cảnh, vượt qua mọi thử thách để thể hiện lý tưởng sống hào hùng của kẻ sĩ:
“Đã hay đường thế thời ra thế ,
Sạch nợ tang bồng mới kể người.”
Chúng tôi nghĩ Nguyễn Công Trứ không “bất lực và thoái thác đối với kiếp người”. Lý do là vì ông chối từ làm người để được làm cây thông ở kiếp sau với nhiều hoài bão và ước mơ về con người, về cuộc đời . Nhà thơ muốn làm cây thông vì thông xanh tươi trên vùng đất sỏi đá khô cằn, thông hiên ngang trong mưa gió rét mướt, thông là biểu tượng của lý tưởng sống “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” của bậc quân tử nho mà Nguyễn Công Trứ là một đại diện. Dùng thi ca để nói lên mong ước tái sinh làm cây thông, Uy Viễn Tướng Công như muốn thách đố người đời, như muốn nhắc nhở chúng ta hãy vượt qua mọi thử thách và gian nguy để sống vững vàng và có bản lĩnh trong cuộc đời này :
“Giữa trời vách đá cheo leo,
Ai mà chịu rét thì trèo với thông.”
Điều cần phân tích ở đây là cái dáng “đứng giữa trời mà reo” của cây thông. Để hiểu hết ý nghĩa của hình tượng văn chương này, chúng tôi thực hiện một liên hệ ngoài văn bản bằng cách trích dẫn câu văn biền ngẫu trong bài Tài tử đa cùng phú của Cao Bá Quát (? – 1854):
“Ngán nhẽ kẻ tham bề khóa lợi, mũ cánh chuồn đội trên mái tóc, nghiêng mình đứng chực chốn hầu môn;
Quản bao kẻ mảng cái dàm danh, áo giới lân trùm dưới cơ phu, mỏi gối quỳ mòn sân tướng phủ.”
Cao Bá Quát cùng làm quan dưới triều Thiệu Trị với Nguyễn Công Trứ. Bức tranh quan lại triều Nguyễn được Cao Bá Quát vẽ bằng gam màu tối như trên chính là trường danh lợi mà Nguyễn Công Trứ đã từng vào ra nhiều lần. Trong thời xuất chính, đã có khi nhà thơ biết thoát vòng danh lợi, vươn lên trên được mất và khen chê để sống “ngất ngưỡng” giữa triều đình. Tuy thế, trong suốt 30 làm tôi trung của nhà Nguyễn, dù không đến nỗi phải “mỏi gối quỳ mòn sân tướng phủ”, nhưng vị nho thần Nguyễn Công Trứ có thể đã hơn một lần“nghiêng mình đứng chực chốn” triều đình, không thể mạnh dạn cất lên tiếng nói trí tuệ của bậc sĩ phu đã có lần tự tín, tự hào nhìn nhận “kinh luân khởi tâm thượng, binh giáp tàng hung trung”, để chỉ còn biết mang “cái dàm danh” mà im lặng lắng nghe đấng quân vương tự nhận là thiên tử để phán những lời mà trăm họ phải nghiêm chỉnh chấp nhận là ý trời, là khuôn vàng thước ngọc…Có phải vì đã trải qua một thời để cho cái “khóa lợi” trói buộc mà đành phải sống gò bó, tù túng ở chốn triều đình, nên khi đã hồi hưu, nhà trí thức lỗi lạc của Việt Nam vào tiền bán thế kỷ XIX đã mong ước kiếp sau được sống đời tự chủ để được tự do nói lên tiếng nói trung thực của mình, như cây thông kia được “đứng giữa trời mà reo”?
Văn chương thường nói điều chưa nói bằng cách phủ nhận điều đã nói. Hiểu đặc tính của văn chương như vậy, giải thích hai câu thơ “Kiếp sau xin chớ làm người / Làm cây thông đứng giữa trời mà reo” bằng ý nghĩa như đã nêu trên, chúng ta biết rõ điều nhà thơ đã nói là không muốn làm người mà chỉ muốn làm cây thông ở kiếp sau, đồng thời, chúng ta cũng nhận biết tác giả đã phủ nhận điều đã nói ra ấy để nói điều chưa nói ra là mong ước được sống, được làm người một cách kiên cường và dũng cảm. Ở đây, Nguyễn Công Trứ chỉ mượn từ ngữ “kiếp sau” của Phật giáo để trình bày quan niệm sống nhập thế tích cực của Khổng giáo. Cho rằng Nguyễn Công Trứ không thấu hiểu Phật pháp* nên mới có ước nguyện tái sinh làm cây thông ở kiếp sau, từ đó phê phán nhà thơ đã “ước mơ hão huyền xa vời trong kiếp Tái sinh – Luân hồi ” thì có khác gì trách móc tác giả câu ca dao “Thương thay thân phận con rùa / Ở đình đội hạc ở chùa đội bia” không biết yêu thương con người mà chỉ biết thương yêu con rùa đá vô tri vô giác!
TP.HCM, 10 - 12 - 11
* Sự thật là Nguyễn Công Trứ đã có kiến thức sâu rộng về Phật học.Bằng chứng là vào những năm cuối thời hưu trí, sau khi bị triệu về kinh vì có tên thị vệ vu khống tội mưu phản, Nguyễn Công Trứ trở về quê cũ là làng Uy Viễn, “bỏ tiền tu sửa chùa Viên Quang và chùa Trung Phu, làm mấy gian nhà tranh ngay bên chùa để ở, thường cùng các Hòa thượng đàm đạo kinh Phật” (Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề, Việt Nam ca trù biên khảo, Tgxb, Sài gòn, 1962, tr. 625 – 626 ). Rất có thể bài hát nói Vịnh Phật thể hiện sâu sắc tư tưởng Phật giáo đại thừa đã được tác giả sáng tác trong giai đoạn này ( Hà Thúc Hoan, Đọc Vịnh Phật của Nguyễn Công Trứ, Đạo Phật ngày nay, tập 4, tr. 78 – 80 ).
Đọc thêm: http://trathomonline.blogspot.com/2011/06/suy-nghi-cua-nguoi-hoc-phat-ve-y-tho.html
Kinh Pháp Cú kể lại: Tôn giả Vakkali xuất gia vì thương Phật quá. Do thương Phật bằng tình thương ích kỷ buộc ràng, nên tôn giả thất vọng khi thấy Phật không quan tâm đặc biệt tới mình. Từ đó ngài đau khổ và không tu được.
Đức Phật dùng tâm đại từ vô duyên đối với tất cả chúng sanh mà Vakkali lại tự trói buộc mình trong vòng luyến ái hữu duyên, Phật vô ý mà Vakkali lại hữu ý. Mỗi khi đức Phật thuyết pháp, Vakkli cứ nhìn Như Lai trân trân nhưng không nghe không biết Như Lai nói gì, vì tâm tôn giả bị kẹt nơi sắc tướng và âm thanh của Thế Tôn, không thể mở ra để đón nhận giáo pháp vi diệu. Không muốn tôn giả chìm sâu trong si ái, đức Phật tránh mỗi khi Vakkali tìm cách thân cận riêng. Cuối cùng chịu hết nổi, Vakkali chọn con đường tự tử để không phải kéo dài nỗi khổ thêm nữa. Ngay khi ông định lao xuống vực, đức Phật xuất hiện với lòng từ vô duyên. Vakkali như người chết đuối vớt được chiếc phao cứu mệnh.
Tôn giả nói:
- Như Lai không bỏ con?
Phật bảo:
- Ta chưa bao giờ bỏ ông, chỉ có ông mới bỏ ông. Như Lai đã lập bày phương tiện, giúp ông khai mở tâm tư đón nhận giáo pháp, nhưng ông không chịu mở tâm ra, tự giam hãm mình trong ích kỷ si mê. Đó chẳng phải là ý muốn của Như Lai.
Bấy giờ Vakkali mới mở được đôi mắt tuệ ra, hiểu rõ Như Lai vẫn thương tưởng đến mình, nhưng không thương như mình từng nghĩ sai lầm. Ngài ăn năn sám hối và từ đó thoát ra khỏi lưới ái, lắng đọng tâm tư nghe Phật chỉ dạy, triển khai thiền định, chẳng bao lâu thành tựu được Thánh quả.
Đức Phật dùng lòng từ vô duyên, không gá duyên nên không bị cột trói bởi các duyên. Vô duyên từ của Phật và Bồ-tát, hạng phàm phu tục tử như chúng ta không dễ có được đâu. Phật độ chúng sanh là vì thương xót chúng ngu mê, bất luận người nào, loài nào, hễ thấy khổ là Phật độ, không ra điều kiện, không phân biệt thân sơ, không nghĩ tới bản thân mình được đền đáp lại. Tình thương của Phật bình đẳng, trong tình thương ấy không có luyến ái buộc ràng, không có cho đi đòi lại, không có sự trói buộc. Đây mới đích thực là một tình thương lớn, đúng nghĩa, chân thật.
Đức Phật từng thương chúng sanh như vậy và cũng mong mỏi chúng sanh khai mở được suối nguồn vi diệu ấy. Nhờ có tình thương mà tâm ta khoan dung độ lượng, bỏ tật xan tham keo xẻn. Tình thương làm cho mình mở rộng tâm vị tha. Phật dạy bốn vô lượng tâm từ, bi, hỷ, xả. Từ là ban vui, bi là cứu khổ, hỷ là vui vẻ tùy hỷ, xả là tha thứ buông bỏ. Bốn tâm này nếu được phát triển tột cùng, nó sẽ trở thành vô lượng. Muốn cứu khổ ban vui thì phải thương, không thương không làm được. Ví dụ thấy đứa bé bị té, ta chạy đến bế lên, vì thương sợ nó đau nên mới bế. Tình thương chân thành, vô phân biệt thì thấy bé nào té cũng bế. Tình thương ái nhiễm, trói buộc thì chỉ bế bé của mình, chớ không bế bé của người khác. Một khi đối xử phân biệt như vậy, bé của mình lỡ bị mất đi mình sẽ chịu không nổi. Chúng ta thường chỉ cứu người ta thương, còn người ta ghét thì cho… chết luôn. Như vậy không có chút xíu nào từ tâm cả, không phải là con Phật, không phải là người tu hạnh Bồ-tát. Đại bi là lòng thương rộng lớn không có ranh giới, không có đối tượng riêng biệt. Bồ-tát thấy ai khổ cũng cứu, không phân biệt thân sơ, không thương ghét để lòng.
Tình thương không phân biệt, không có điều kiện sẽ không có sự trói buộc, khổ đau. Chúng ta thấy đức Phật không bao giờ khổ. Ngược lại chúng ta thương có đối tượng, cho và nhận đều tính toán kỹ càng nên khổ. Mình cho người ta ít mà đòi lại khá nhiều. Như vậy là ăn gian. Nếu có đòi cũng đòi ít thôi, đừng có đòi quá, đòi quá sẽ mắc nợ trở lại, vay trả hoài mệt lắm. Tất cả sự đổ vỡ trong cuộc đời, chỉ có ta mới biết mấu chốt ở chỗ nào mà xây dựng lại, làm lành trở lại. Phải là ta tự cứu ta, rồi sau đó chia sẻ cho mọi người. Đã là ta tự cứu ta thì đâu có trả giá, dù làm lợi ích cho người nhưng vẫn là viên mãn hạnh nguyện lợi tha cho chính mình, như vậy đâu có gì để so đo tính toán nữa. Bồ-tát rõ biết thế ấy nên các ngài phát triển hạnh đại bi vô tận, vẫn không cảm thấy mệt mỏi.
Quanh ta trong cuộc đời, rất nhiều những con người thầm lặng đến rồi thầm lặng đi, không chút lưu dấu mà chan chứa bi trí tròn đầy, để lại trong lòng nhân sinh những khoảnh khắc giật mình. Giật mình nên tỉnh, biết nghĩ lại. Sao ta không thể yêu thương cả trần gian này, mà chỉ yêu thương có một vùng? Trái tim con người vì thế bị siết chặt trong chiếc thòng lọng của vô minh khát ái, để rồi phải thản thốt kêu lên tuyệt vọng giữa cuộc đời vẫn còn nhiều tấm lòng trong sáng, rộng mở luôn hướng về mình. Thật tiếc quá!
Phật bảo tháo gỡ sự trói buộc tức thì giải thoát thong dong, tự tại. Tháo được hay không là do sự quyết tâm, ý chí và nghị lực của mỗi người. Tháo được thì khỏe, tháo không được thì mệt, cho nên phải ráng tháo cho được. Đó là chuyện sống còn của ta, chớ không phải của ai khác. Đức Phật, chư vị Bồ-tát và thiện hữu tri thức đã hết lòng tiếp sức cho chúng ta rồi. Tệ lắm thì mình cũng phải bắt chước tôn giả Vakkali, một lần đứng trước cửa tử rồi muôn thuở sống lại với chính mình, chấm dứt tử sinh, đem mầm sống mới đến cho muôn loài.
Một chiều cuối Đông, thật bất ngờ khi tôi gặp em, nghe em đọc lại những dòng chữ năm xưa chính tôi đã viết:
… Cơn đói khát lên tiếng cồn cào, chiếc thân gầy nhũn xuống mặc cho đôi tay vẫn trơ lỳ đờ đẫn. Và giữa lúc ấy, giữa lúc mà tia hy vọng mong manh sắp tắt thì một bàn tay bé bỏng ấm áp đặt lên, xiết chặt đôi tay già còm cõi giá rét. Để từ đó, hai cảnh đời, hai tâm hồn kết tập thành một bài kinh:
- Cháu xin lỗi ông, cháu đã tìm khắp, đã lục lạo trong túi áo, trong cặp, trong thân mình. Cháu muốn biếu ông một vật gì đó, chút xíu thôi cũng được, nhưng cháu không có một cái gì cả.
- Cám ơn cháu… Cháu… đã cho ông… thật nhiều.
Và cứ thế, bàn tay vẫn trong lòng bàn tay. Một già một trẻ, một dòng suối cam lồ tuôn chảy giữa đôi cung bậc đầu và cuối trong bản giao hưởng về đời người. Giây phút ấy thật ngắn ngủi mà cũng thật thiên thu!
Em đọc bằng trái tim, đôi tay lướt trên những dòng chữ Braille (chữ nổi) kỳ diệu, đã tiếp thêm cho tôi một sức sống nhiệm mầu. Tất cả chúng ta hãy đến với cuộc đời bằng trái tim và lòng vị tha chân thành. Mười năm trước tôi đã cảm ơn em, một em bé giàu lòng nhân ái và thật sự làm cho người ta phải mở rộng lòng yêu thương. Mười năm sau tôi lại cảm ơn em, một người bạn khiếm thị đến với đạo, với cuộc đời bằng tất cả nỗ lực bình sinh của tuổi thanh xuân.
Và còn nữa… còn nữa những mười năm để đưa tất cả chúng ta đến thật gần với mùa xuân, với tình thương bất tận tròn đầy.

Năm mới đã đến bên thềm, khẽ thì thầm gõ cửa lòng ta và nhắc: này, cậu sắp thêm một tuổi. Đừng rong chơi nữa nhé. Mình đã mỉm cười, tặng cho lời nhắc yêu thương mà năm mới dành cho một kẻ hành khất lang thang là mình.
Vâng, mình lang thang đi trong cõi mộng, nhặt từng chút bình an và yêu thương mình đã lỡ phung phí, đánh rơi trong suốt hành trình sanh tử, xuống lên sáu đường.
Nhặt lại để cho yêu thương vẫn tràn đầy, cho bằng an vẫn còn đâu đây trong tâm mình chứ không phải đã chạy mất hút. Thực ra, nói bằng an và yêu thương bị đánh rơi là mình đã hình tượng hóa cho dễ hiểu thế thôi, nhưng nó bị ẩn dật, dưới dạng một gen “lặn” và để cho những “hạt giống” trội như là hoài nghi, ích kỷ lấn át, chi phối, làm chủ thân-tâm mình. Và mình thấy như là mình vô cảm, không có một chút yêu thương nào, không có bằng an…
Mình đã từng, nên mình hiểu. Có thể trong trùng trùng tử sanh và có thể trong hiện tiền kiếp này mình đã từng! Nếu có học Phật, tin Phật, hành theo Phật thì mình sẽ thấy lớp lang những tâm hành bất an và hạnh phúc đã từng có, từng biểu hiện đan xen trong mình. Và có nhận diện đó, thì mình sẽ bắt đầu kiến tạo một tình thương và bằng an lớn hơn, bằng cách học và hành giới-định-tuệ.
Giới là thầy, là nguyên tắc giúp mình rèn thân và tâm, để mình có những thăng hoa trong đời sống và tu tập. Do vậy mà những ai là con Phật đều hiểu rõ một điều: giới luật bảo hộ thân-tâm, chứ không phải là sợi dây trói buộc. Và vì vậy, hễ ai gìn giữ giới (những nguyên tắc đạo đức cao thượng) thì tự khắc đời sống tâm linh được thăng hoa, những giá trị của tình thương và sự hiểu biết “tìm về” - biểu hiện dưới dạng hạt giống trội.
Bên thềm năm mới, mình có suy nghĩ về những giá trị cao thượng và quán chiếu nó dưới cái nhìn của một người Phật tử để rồi trở về an trú với chính sự mầu nhiệm của pháp thân, ở đó có hơi thở, nụ cười. Chính phương tiện, chất liệu của thân, hơi thở, nụ cười ấy đã dẫn mình đến chánh niệm, đến tư duy sáng suốt, hành động dần được đúng đắn…
Sự kết nối ấy như những móc xích để đi tới với đích: trí tuệ. Thầy mình từng nhắc rằng: “Con biết người tu lấy gì làm sự nghiệp không? Tất nhiên đó là trí tuệ (duy tuệ thị nghiệp)”. Vậy là, suy nghĩ tới đây mình lại học thêm một bài học giá trị từ sự thực tập ngay thềm năm mới.
Trước thềm năm mới, mình có cơ hội để nhớ về năm cũ, với những sự biểu hiện của toàn cảnh thế giới, với những nỗi đau, những bất ổn vẫn còn đó, diễn ra đâu đó, ở nơi này, nơi kia.
Đó là sóng thần, động đất ở Nhật Bản vào ngày 11-3, là cuộc khủng hoảng tài chánh-tiền tệ diễn ra trên toàn cầu với những âu lo, đau khổ vì mất việc, vì chất lượng cuộc sống suy giảm… Chiến tranh và những vết thương môi trường đang là nỗi ưu tư không chỉ của lãnh đạo các quốc gia mà trong mỗi con người hiện đại có ý thức về vấn đề này. Tiếng chuông của thiên tai, tật bệnh… có lẽ đã nhắc con người tỉnh thức để quán niệm về tình thương bằng cách “sống cho muôn người”, bằng cách sống hài hòa hơn với thiên nhiên, đất mẹ. Tất cả những cái nhớ ấy nếu được nuôi dưỡng mỗi ngày thì có lẽ lòng từ của mình cũng sẽ được tưới tẩm để nở hoa nhiều hơn.
Năm mới-mùa xuân là cơ hội làm mới. Làm mới bằng cách “phản quan tự kỷ”, bằng cách quán chiếu sâu và nguyện sống có trách nhiệm với mình, với người, với quê hương, đất nước và với “ngôi nhà chung” Trái đất cũng chính là mình đang thực tập sống theo tinh thần lời Phật dạy.
Có lẽ đó mới là phẩm vật cúng dường có ý nghĩa và đúng theo tinh thần của bài niệm hương mà mình vẫn niệm: “Giới hương, định hương, giữ huệ hương/ Giải thoát, giải thoát tri kiến hương”. Vâng, giờ khắc giao thừa mình sẽ niệm hương và nguyện cúng dường hương giới, hương định, hương tuệ và hương giải thoát ấy từ việc sống ngay thực địa này, với một lối sống tròn đầy thương yêu, tròn đầy tuệ giác chứ không phải hời hợt qua ngày.
Cảm ơn năm mới, cảm ơn thầy, bạn đồng tu, cảm ơn những nhân duyên hội ngộ với những người có cùng tâm nguyện để ta có cơ hội chiêm nghiệm, trải lòng…
Lưu Đình Long
Năm 2012, cầu nguyện cho thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc - Ảnh: Internet

