Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười

thơ Trần Trung Đạo
nhạc Võ Tá Hân
trình bày Thế Sơn

Mẹ, một đề tài thường đem lại sự thành công, trong nhiều bộ môn sáng tác nghệ thuật. Riêng trong lãnh vực thi ca, không kể những cây bút thành danh, những người có duyên với thơ, phần nhiều cũng đã viết được những bài về mẹ từ xuất sắc đến đọc được. Phải công nhận một số thơ thuộc chủ đề này, đôi khi có sự lặp lại ngôn từ, hình ảnh hoặc cả cách diễn đạt. Tuy vậy, người đọc cũng ít khi gặp sự nhàm chán như ở một số đề tài khác. Điều này có lẽ nhờ tình thương yêu sẵn có trong lòng người đọc. Đọc thơ viết về mẹ có lúc như là kiểm chứng lòng mình, có lúc như là ôn lại, sống với những kỷ niệm, những hình ảnh, khó phai nhòa trong tâm tưởng. Tôi đã từng bâng khuâng với Nắng Mới của Lưu Trọng Lư, đã từng thao thức với Lòng Mẹ của Nguyễn Bính, đã từng trôi nổi với Lời Ru Của Mẹ của Xuân Quỳnh. Và cũng đã từng ứa nước mắt với Mất Mẹ của Xuân Tâm.

Năm xưa tôi còn nhỏ
Mẹ tôi đã qua đời
Lần đầu tiên tôi hiểu
Thân phận trẻ mồ côi.

Quanh tôi ai cũng khóc
Im lặng tôi sầu thôi
Để dòng nước mắt chảy
Là bớt khổ đi rồi...

Hoàng hôn phủ trên mộ
Chuông chùa nhẹ rơi rơi
Tôi thấy tôi mất mẹ
Mất cả một bầu trời.
(Lời Chim Non – Xuân Tâm)

Bạn thấy rất thân quen với bài ngũ ngôn đơn giản, tuyệt vời trên? Vâng đúng vậy, bài thơ không xa lạ với số đông chúng ta. Xin cảm ơn thầyNhất Hạnh và đoản văn Bông Hồng Cài Áo thầy viết vào năm 1962.

Trong đoản văn này, có lẽ vì quá xúc động khi đọc thơ, khi thả lòng theo bút, thầy Nhất Hạnh đã quên ghi xuất xứ, tên tác giả bài thơ. Nhưng nhờ vào đoản văn của thầy, bài thơ của Xuân Tâm được phổ biến rộng rãi hơn. Rất hy vọng, trong tương lai, nếu Bông Hồng Cài Áo còn tái bản, xin những người có lòng, kính tưởng người mẹ già của nhà thơ Xuân Tâm, không hà tiện một đôi dòng ghi chú cho thêm phần lịch sự, tri thức.

Thơ Mất Mẹ của Xuân Tâm, một tác giả đất Quảng Nam, đã là chuyện trong quá khứ. Gần đây, tại hải ngoại cũng có một tác giả khác của xứ Quảng Nam lại viết được một bài về Mẹ rất thành công. Bài thơ tạo được ấn tượng tốt ngay ở cái tên bài: Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười.

Trần Trung Đạo, tác giả của một khao khát, ước muốn thần kỳ. Anh là nhà thơ, nhà văn, là tác giả nhiều bài nhận định về chính trị và văn học rất già tay. Bút danh của anh không những nổi bật tại hải ngoại, trong nước giới trẻ, giới chính trị trí thức cùng tìm đọc với xao xuyến đồng cảm, hoặc hằn học tức tối, cụ thể như ông Trần Chung Ngọc.

Theo đường mòn, trước khi lang thang vào tác phẩm, tôi xin mở hồ sơ lý lịch của người viết Trần Trung Đạo:

Sinh tại Duy Xuyên Quảng Nam vào năm 1955, Trần Trung Đạo tên thật là Trần Văn Nhơn. Những tư liệu này được hai nhà thơ Lưu Nguyễn và Phan Xuân Sinh cho giống nhau, gần cùng một lúc. Chưa thấy ghi trong Tác Giả Việt Nam của Lê Bảo Hoàng hoặc nhiều trang điện toán có thông tin, đăng tác phẩm của tác giả như: thewriterspost.net, vnthuquan.net, xuquang.com, nguoivietboston.com, trantrungdao.com.

Trần Trung Đạo có vóc dáng rất Việt Nam, rất thư sinh nho nhã. Anh đã từng có mặt tại trung học Trần Quý Cáp Hội An, đại học Vạn Hạnh, đại học Luật Khoa Sài Gòn. Rồi tốt nghiệp kỹ sư điện toán tại Wentworth Institute of Technology. Trần Trung Đạo đến Hoa Kỳ bằng phương tiện phổ thông: vượt biên đường biển vào năm 1981. Sau thời gian ở đảo Palawan, anh hiện sống cùng gia đình tại Boston Massachusettes. Nghề tay phải hiện nay: điều hành hệ thống dữ kiện cho một hãng đầu tư tài chánh ngay tại nơi định cư. Trần Trung Đạo bắt đầu sinh hoạt văn học từ cuối thập niên 80. Ngoài bài vở đóng góp trên các báo đất, báo mạng, anh đã có các tác phẩm bày bán:

- Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười (thơ, in 1993 tái bản 1996)
- Thao Thức (thơ, 1997)
- Thơ Trần Trung Đạo (thơ, 2003)
- Giấc Mơ Việt Nam (văn, 2003)
- Tâm Bút (văn, 2005, được chính trang web TTĐ giới thiệu: Gồm 23 bài tâm bút và tiểu luận liên quan đến các vấn đề của đất nước mà mỗi chúng ta hằng ưu tư, trong đó có Suy Nghĩ Tháng Tư, Ba Mươi Năm Nhìn Lại Chiến Tranh, Sự Im Lặng Của Biển, Tuổi Trẻ Và Lý Tưởng Phụng Sự Xã Hội, Con Có Một Tổ Quốc, Số Phận Một Loài Chim, Nhìn Tấm Bia Tưởng Niệm Ở Galang Suy Nghĩ Về Hòa Giải v.v… Ngoài ra, Tâm bút Trần Trung Đạo còn gồm những bài thuyết trình của tác giả về các chủ đề văn hóa, tuổi trẻ và nhân quyền tại các cộng đồng, hội nghị, đại học và các trại hè thanh niên trên nước Mỹ)
- Tiểu Luận (văn, 2009. Nguyên văn giới thiệu trên web TTĐ: Tuyển tập dày hơn 300 trang, bao gồm những tiểu luận chọn lọc như Khám nghiệm một “Hồn Ma”, Sông Gianh chảy giữa lòng Hà Nội, Tuổi trẻ Việt Nam học lịch sử để làm lịch sử, Trách nhiệm của các thế hệ Việt Nam, Hẹn một ngày giành lại Hoàng Sa, thảo luận về các vấn đề nóng bỏng của đất nước và đang được người Việt trong cũng như ngoài nước quan tâm nhất. Ngoài ra, tập tiểu luận còn có những bài góp ý về các hồi ký gây nhiều chú ý của một số nhà văn trong nước, đã qua đời hay còn sống như Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc v.v...)

Sức viết và thành phẩm đa dạng trong nhiều bộ môn sáng tác của Trần Trung Đạo thật đáng ngưỡng mộ. Nhưng nghiêm chỉnh với cuộc chơi Theo Gót Thơ, và như đã nói trên, tôi xin đến với Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười cùng một vài bài thơ khác cùng một chủ đề Mẹ.

Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười đã được sự đồng cảm của nhạc sĩ Võ Tá Hân. Bàn tay cầm đàn này, đã thả ra những nốt nhạc cho một số tiếng hát Bảo Yến, Hà Lan Phương, Thanh Thúy, Gia Huy, Thế Sơn... đưa thơ của Trần Trung Đạo đến giới thưởng ngoạn. Bài thơ có nội dung:

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Ðốt lửa cho đời tan khói sương

Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau

Ðừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
Ðau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Ðổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

Với thể loại bảy chữ, giàu âm điệu. Hơi thơ là một dòng chảy man mác buồn, mang những tiếng thỏ thẻ tâm sự của một người con xa nhà gởi về mẹ già. Trần Trung Đạo không nhắc đến Mẹ Việt Nam, nhưng qua thơ, qua hình ảnh và những chân tình, chúng ta nhận ra điều đó. Đây là một ưu điểm giúp bài thơ thu hút được nhiều đồng cảm, chia xẻ.

Trần Trung Đạo không phải nhờ đến sự khôn khéo. Anh đã dùng chân tình trong yêu thương, trong nhớ nhung có thật của mình, để viết được những câu, dùng được những chữ, mà ai đọc vào cũng tưởng như chính mình đã viết ra, đã nói lên cùng với mẹ. Những nghĩa vụ cao cả của người mẹ, cùng những nỗi truân chuyên trong đời thường của nhiều bà mẹ đều không cần để trưng ra. Đó là cái đặc biệt, giúp bài thơ không đi vào vết mòn của nhiều bài thơ, ca ngợi chung chung về một người mẹ.

Để hoàn thành một bài viết có vần trở thành một bài thơ, hình như thường phải có:

- ý, hồn
- từ ngữ, nhạc điệu
- hình ảnh, màu sắc

Ý, hồn của Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười chính là tình cảm, sự thương nhớ. Như đã nói, Trần Trung Đạo dùng cái tình của mình, cái tâm của mình để ướp, để bón vào câu chữ, nên mỗi dòng anh viết đều dính liền hơi thở của anh, hơi thở của chính người mẹ anh đang nhớ thương, chuyện vãn.

Chữ dùng của Trần Trung Đạo không mới, nếu không muốn nói là cũ: lặng người, lặng thề, sơn khê, màu tang trắng, thiên thu... Tuy vậy sự sắp xếp đúng chỗ và thích hợp đã không hề cho thấy câu nào sáo cũ. Trái lại chúng mang được nét giản dị, bình thường và trung trực giữa tình mẹ con trong đời thường. Sự đơn giản này chính là cây cầu để mọi trình độ bạn đọc đều đến được với thơ anh một cách chân tình, lý thú.

Về hình ảnh cũng na ná như ngôn từ. Phong phú nhưng thông dụng, thường gặp.
Mọi bài thơ đều cần có đoạn mở đầu gây được ấn tượng tốt với người đọc. Tôi thật sự ngưỡng mộ Trần Trung Đạo, ở cách trưng ra hình ảnh thật đẹp để chuyển vận tâm sự của mình:

“Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
tiếng ai như tiếng lá thu rơi”

Chúng ta có thể hình dung thật rõ những diễn biến của một bi kịch câm:

Có tiếng chuông điện thoại, người con bắt máy lên và liền ngay đó lặng người đi vì bất ngờ, vì sửng sốt. Vài giây cho nghi vấn tiếp theo “tiếng ai...” chính là nỗi nghẹn ngào chợt đến trong lòng người con. Anh không lạ và nhận ra ngay hơi thở, giọng nói quen thuộc, nhưng gắng vờ đi vài giây để cho lòng mình bớt xúc động. Tiếng nói bên kia đầu dây, nhẹ nhàng quá. Nó rung lên như âm vang của một chiếc lá rụng. Chiếc lá đang ở thời kỳ vàng úa của mùa thu, của một kiếp đời sắp qua. Diễn tả, so sánh giọng nói mòn yếu của mẹ bằng cái động của một chiếc lá mùa thu rơi, quả thật là một hình ảnh đẹp. Hình ảnh này Trần Trung Đạo đã lượm được trong tích tắc xuất thần.

Tiếp liền hình ảnh gợi mở là những thỏ thẻ gói trọn những nét dễ thương, trìu mến, qua hai chữ rất bình thường “mẹ nhỉ”. Tấm lòng người con vừa kịp mở ra với chân tình và thực tế:

“chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi”

Hình ảnh trở thành là hơi thở của bài thơ. Trần Trung Đạo thật có hoa tay trong kỹ thuật này:

Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Sự so sánh tưởng như chệnh choạc nhưng không. Màu trắng tóc mẹ chính là cái bao la của tuổi đời. Một sự giàu có buồn nhiều hơn vui. Và tác giả cũng không quên vẽ ra ngay nét bi quan, gọn nhẹ trong một từ “tang”. Cái bát ngát này cũng là cái vô cùng thương nhớ kính yêu trong lòng nhà thơ. Hình ảnh trắng cả lòng còn nói lên sự thao thức lo lắng của người con trước buổi xế chiều của mẹ. Dùng một hình ảnh cụ thể để mở ra một hình ảnh trừu tượng không phải lúc nào cũng có thể linh động, cân xứng như tay nghề Trần Trung Đạo. Nếu không có chân tâm đích thực, không có hồn thơ dẫn dắt, khó có thể viết được hai câu trên.

Bốn câu tiếp vẫn là những dòng chứa đầy hình ảnh đẹp. Với một người đang về chiều, còn phải bị những nhớ nhung, đau thương vây phủ, chắc khó có chọn lựa nào hơn là ngồi ôn lại những tiếc tưởng, thương nhớ. Khuôn mặt đứa con thân yêu đã ngàn trùng xa, chính là nỗi buồn mà người mẹ ôn tới ôn lui trong trí nhớ, trong trái tim. Cử chỉ tâm tư này như những mũi đan cho nỗi buồn ngày một rộng lớn thêm. Tôi nghĩ, chủ yếu của bài thơ là tình mẹ con, nên tác giả đã chọn số-từ đơn vị “một” để đứng trước nỗi buồn. (một nỗi buồn). Thật ra trong cuộc sống nỗi buồn vốn phong phú hơn niềm vui. Nếu số-từ “một” được thay mạo-từ “những”, để vẽ ra hình ảnh người mẹ ngồi đan kết những mẩu buồn trong đời lại với nhau, vừa thương nhớ đến con cũng rất đẹp.

Trong đoạn đầu, tiếng nói của mẹ được ví như tiếng lá mùa thu rụng đã tuyệt vời. Ở đoạn bốn, tiếng mẹ lại được hình dung là một tiếng nói trong giấc chiêm bao càng sắc sảo hơn. Bởi ngoài hình ảnh đẹp còn tỏa rộng nỗi ngậm ngùi đến vô cùng. Động từ “vói” (miền Bắc dùng “với”) nằm cuối câu ba đoạn này, cũng rất thần tình. Vói là vươn đến một hình tượng trước mắt, không quá xa, nhưng khó chạm vào. Ở đây khoảng cách hai mẹ con vốn thật gần trong tình cảm nhớ thương, nhưng lại vô cùng xa cách về phương diện địa lý.

Thơ không để giải thích. Tôi đã có ít nhiều lẩm cẩm. Dù sao cũng xin phép được vớ vẩn thêm vài dòng nữa: Dùng mạng sống của mình, hy sinh hết cả ngàn năm của thiên hạ, để được thấy lại nét cười của mẹ mình, là một ý niệm đáng yêu. Bài thơ ngợi ca tình mẫu tử của Trần Trung Đạo là một bài thơ hay. Nó mang đến sự vừa lòng cho người viết lẫn người đọc. Với tác giả, anh đã đệ trình lên đấng sinh thành lòng thương yêu kính trọng vô biên trong sự chân thật. Với bạn đọc, tìm gặp được những xúc động, những suy nghĩ về tình cảm bản thân với phụ mẫu. Được chia xẻ những cảm nhận về mẹ thật không gì ấm lòng, bình tâm hơn.

[trích]

Hà Khánh Quân

Xem thêm: Nẻo vào Tuệ Không


Chúng ta thường đi tìm một cái gì bên ngoài để mang lại cho mình hạnh phúc như vật chất, nhà cửa, xe hơi, máy móc, tiện nghi, ... hoặc tình cảm gia đình, thân quyến, bạn bè, người yêu, ... hoặc danh vọng, địa vị, lý tưởng. Ta khát khao tìm kiếm vì tưởng mình nghèo nàn, thiếu thốn, tâm luôn phóng ra ngoài chạy theo trần cảnh. Trong kinh Pháp Hoa kể thí dụ đứa cùng tử suốt đời đi ăn xin vì không biết trong túi mình có viên ngọc quý, đến khi được người bạn nhắc tỉnh ngộ lấy ngọc ra xài liền hết đói khổ.

Bài quán chiếu dưới đây nhắc bạn nhớ lại những viên ngọc quý mà bạn đã có, chỉ cần lấy ra dùng là sẽ có hạnh phúc. Sau đây là 7 điều quán chiếu hạnh phúc:

1/ Ta đang còn sống
2/ Ta có sức khỏe
3/ Ta có đủ sáu căn
4/ Ta có tự do
5/ Ta có tiện nghi vật chất
6/ Ta có tình thương
7/ Ta có sự hiểu biết


1/ Ta đang còn sống

Trên đời này quý nhất là sự sống. Tất cả sinh vật từ côn trùng, sâu bọ, thú vật cho đến con người, loài nào cũng tham sống sợ chết. Giả sử bây giờ phải lựa chọn giữa trúng số độc đắc mà chết và sạt nghiệp mà sống thì bạn sẽ lựa cái nào? Ở đời ai cũng lo đi tìm tiền của, nhưng thật ra tiền của chỉ để bảo đảm sự sống an toàn, tiện nghi. Có nhiều người giàu sang sẵn sàng chi hết tiền của để cứu lấy mạng sống. Như thế đủ thấy sự sống quý hơn tiền bạc, quý hơn gấp trăm ngàn, triệu ngàn lần. Ngay cả một tỷ đô la cũng không mua nổi mạng sống khi bị bệnh ung thư hay sida (aids). Vậy mà sáng nay mở mắt thức dậy còn sống, bạn có thấy mình hạnh phúc không? Mỗi khi cảm thấy khổ đau, chán nản hay tuyệt vọng thì hãy nhớ lại ta đang còn sống đây. Còn sống thì còn tất cả.


2/ Ta có sức khỏe

Sự sống quý nhất trên đời, sức khỏe quý nhất trong sự sống. Có sức khỏe không có nghĩa là phải khỏe như lực sĩ thế vận hội mà chỉ cần không đau nhức, bệnh hoạn, không có bệnh trầm kha, nan y, v.v... Ở đời mấy ai tránh khỏi bệnh tật, không bệnh này thì bệnh nọ. Bệnh nặng như ung thư hay sida phải có thuốc giảm đau như morphine mới chịu nổi, nếu không thì đau đớn rên siết như bị hành hình ở địa ngục, bệnh nhẹ như cảm cúm, sổ mũi, nhức đầu cũng làm cho ta mệt mỏi, khó thở, đau nhức. Mỗi khi khỏe mạnh, không bệnh hoạn thì ta hãy mừng rỡ ý thức đó là một hạnh phúc. Có nhiều tiền mà bệnh hoạn liên miên, ăn không được, ngủ không yên, hết nằm nhà thương này đến nhà thương nọ, có tiền như vậy đâu có sướng! Mỗi khi cảm thấy khổ đau, chán nản hay tuyệt vọng thì hãy nhớ lại ta đang còn sức khỏe đây. Còn sức khỏe thì còn làm được tất cả.


3/ Ta có đủ sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý)

Có nguời đầy đủ sức khỏe nhưng lại bị mù, điếc, hoặc câm, què, tàn tật, v.v... Những người này dù có tiền, có sức cũng đâu sung sướng gì! Bạn có thể tưởng tượng nếu bây giờ bị mù thì bạn sẽ ra sao? Chỉ cần nhắm mắt lại trong năm, mười phút đi tới đi lui trong nhà mình xem. Bạn có hiểu được nỗi khổ của người mù không? Vậy mà bạn đang còn đôi mắt sáng thấy được trời xanh, mây trắng, tai nghe được chim hót, nhạc hay, mũi ngửi được mùi cơm thơm, miệng nói năng được với người thương, thân không què quặt, tâm không điên loạn. Như vậy còn đòi hỏi gì hơn? Chỉ cần mất đi một căn thôi đời bạn sẽ mất đi rất nhiều ý nghĩa. Dù ở trong cảnh khổ nào đi nữa, nhớ lại mình còn nguyên vẹn sáu căn cũng đủ an ủi và xóa tan đi mọi niềm đau.

4/ Ta có tự do

Tự do ở đây là không bị tù đày chứ không có nghĩa chính trị hay tôn giáo. Bởi vì theo giáo lý, tất cả chúng ta đều là tù nhân của ba cõi sáu đường. Chỉ khi nào thoát khỏi sinh tử luân hồi mới thực sự là tự do. Hiện tại bạn có đang ở tù không? Có đang bị trói buộc, xiềng xích không? Có ai cấm bạn đi đứng nói năng, ăn uống không? Có ai đánh đập theo dõi kiểm soát bạn không? Bạn có biết đời sống trong tù ra sao không? Dù đó là tù ở Pháp, ở Mỹ? Có thể bạn nghĩ tù ở các xứ văn minh giàu có thì sướng hơn ở xứ nghèo chăng? Ở Mỹ nhân viên cai tù không hành hạ tù nhân nhưng chính những người tù đánh đập, áp bức, hiếp dâm lẫn nhau rất dã man. Ngay bây giờ nhìn lại, bạn có thấy mình được tự do đi đứng nói năng không? Nhớ ai thì lên xe rồ máy đi thăm, thèm ăn món gì thì ra chợ mua hoặc đi nhà hàng, v.v... Có biết bao người đang bị tù đày khổ sở, trong đầu chỉ ao ước được tự do như bạn là họ sung sướng lắm. Vậy mà đang sống tự do bạn có cảm thấy hạnh phúc không? Nếu không thì bạn hãy ý thức và nhớ lại đi, đừng để khi mất tự do rồi mới mơ ước thì quá muộn.


5/ Ta có tiện nghi vật chất

Tiện nghi vật chất không hẳn là nhà cao cửa rộng, xe hơi, ti vi, tủ lạnh, máy giặt, máy rửa chén v.v... Tiện nghi ở đây là những thứ căn bản mà phần đông chúng ta đều có, đó là cơm ăn, áo mặc, chỗ ở che mưa nắng, không phải đi ăn xin, ngủ đầu đường xó chợ. Nhiều người ở Việt Nam vẫn tưởng rằng sống ở Pháp hay Mỹ chắc sướng lắm vì đầy đủ tiện nghi, họ đâu biết là ở đâu cũng có kẻ giàu người nghèo. Ngay tại Paris, thủ đô ánh sáng, hàng ngày vẫn có nhiều người ăn xin vô gia cư, tiếng pháp gọi là SDF (sans domicile fixe), ngửa tay đi xin tiền trong xe điện ngầm (métro), tối đến họ chui vào những gầm cầu thang để ngủ. Nhìn lên chẳng bằng ai, nhưng nhìn xuống thì ta vẫn còn may mắn hơn nhiều người. Hãy nhìn lại hoàn cảnh của mình, bạn có đói đến nỗi thiếu ăn không? Có nghèo đến nỗi không còn mảnh vải che thân? Nếu chưa đến nỗi như vậy thì bạn hãy xem mình đầy đủ. Khi tâm biết đủ (tri túc) thì bao nhiêu cũng đủ, khi tâm tham muốn đòi hỏi thì bao nhiêu cũng không đủ. Người biết đủ là người giàu có hạnh phúc vì không thấy thiếu thốn, người tham lam keo kiệt dù có nhiều tiền vẫn là người nghèo vì không bao giờ thấy đủ.

6/ Ta có tình thương

Nhiều người khổ sở vì cảm thấy cô đơn, không có ai thương mình hết. Không ai thương mình bởi vì mình đâu có thương ai. Khi trong lòng ta tràn đầy tình thương thì tự nhiên nó tỏa ra và mọi người sẽ tìm đến. Giống như mùa xuân hoa nở thơm ngát thì tự động ong bướm bay tới xung quanh. Ai cũng có một trái tim, tiếng Hán là tâm, bản chất của tâm (tim) là thương yêu. Ta có dư tình thương cho chính mình và cho kẻ khác. Chỉ cần nhớ lại mình có trái tim thương yêu và đem ra xử dụng. Nếu chưa nhớ thì bạn hãy thực tập phép quán từ bi ở phần trước. Hiện tại bạn có ai là người thân thương không? Có cha mẹ, anh em, vợ con, bạn bè không? Có ai đang thương và lo lắng cho bạn không? Có tình thương, biết thương và được thương là một hạnh phúc lớn nhất trên cõi đời này.


7/ Ta có sự hiểu biết

Hiểu biết ở đây là hiểu biết đạo lý chứ không phải kiến thức bằng cấp. Không kể người khùng điên mất trí, hoặc bị bệnh tâm thần mà ngay cả những người bình thường cũng chưa chắc có sự hiểu biết về nhân quả và đạo đức. Đầu óc ta còn sáng suốt, không điên khùng mất trí, lại gặp được Phật pháp, học hiểu giáo lý giải thoát, đó là một duyên lành hy hữu trăm ngàn muôn kiếp khó gặp được.


Nếu quán chiếu những điều trên chưa đủ để cho bạn hạnh phúc thì bạn cần phải "hạ sơn" đi vào cuộc đời để tiếp xúc với người sắp chết, người bệnh để thấy họ khổ ra sao, tiếp xúc với người tàn tật, người tù, người ăn xin, người cô đơn, người ngu cố chấp thì may ra nó sẽ giúp bạn tỉnh ngộ thấy mình hạnh phúc.

Thích Trí Siêu

"Thời gian không đợi ai. Kể từ khi chào đời, chúng ta cứ từng phút từng giây tiến đến gần đoạn kết, về cái chết. Đời sống con người là như vậy, thế giới này, vũ trụ này, tất cả đều như vậy cả…

Tâm của chúng ta đây, cho dù hiện tại chứa đầy vô minh và khổ đau, vẫn có thể chuyển thành tâm giác ngộ của một đấng Phật đà. Nếu nói về vật chất tiền tài thì đúng là nên tri túc, đừng ham muốn. Nhưng trên lĩnh vực tâm linh, vì tiềm năng của tâm thức con người không giới hạn mà đời sống thì lại có hạn, cho nên phải cố gắng tối đa, tận dụng khoảng thời gian sống ngắn ngủi để làm hết những gì tâm có thể làm được, nhờ kiếp người quý giá này"…


Lời Đức Đạt Lai Lạt Ma

"Trong cuộc sống, có những điều mà ai cũng phải đương đầu đó là được và mất, hạnh phúc và khổ đau.Vậy, trong lúc thăng trầm ấy, điều mà ta nên làm được là giữ tâm bình thản".

* Narada Maha Thera


Mong ước tái sinh làm cây thông của Nguyễn Công Trứ

TÂM HỶ

Trên tập san Pháp luân số 80, một tác giả đã viết bài báo dài gần 10 trang giấy để giải thích một “ý thơ” của Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858): “Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.” Sau khi trích dẫn nhiều thơ văn để tìm hiểu Nguyễn Công Trứ qua ba giai đoạn của cuộc đời, người viết sử dụng nhiều khái niệm, nhiều thuật ngữ triết học của Phật, Khổng và Lão để hiểu ý nghĩa của câu thơ và kết luận: Nguyễn Công Trứ mang “ tâm trạng bi quan ngán ngẩm cho kiếp người trôi nổi vật vờ trên dòng đời dâu bể…”, lời thơ “chỉ còn là tiếng thở dài đầy bất lực và thoái thác đối với kiếp người”, ước muốn làm cây thông “chỉ là một ước mơ hão huyền xa vời trong kiếp Tái sinh – Luân hồi…” Qua bài viết này, theo một hướng tiếp cận khác, chúng tôi phân tích bài Nhàn ngâm trích dẫn trọn vẹn dưới đây để giải thích lý do Nguyễn Công Trứ không muốn làm người và tìm hiểu ý nghĩa Mong uớc tái sinh làm cây thông của nhà thi sĩ:

“Ngồi buồn mà trách ông xanh,
Khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười.
Kiếp sau xin chớ làm người,
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.
Giữa trời vách đá cheo leo,
Ai mà chịu rét thì trèo với thông.”



Nguyễn Công Trứ là con người hành động. Qua ba giai đoạn của cuộc đời là hàn vi, xuất chính và hồi hưu, tác giả đã sống đúng lẽ xuất xử của nho gia để hoàn thành chương trình hành động – lý tưởng sống nhập thế tích cực của kẻ sĩ. Nhưng ở một lúc nào đó vào cuối đời, đã xuất hiện một Nguyễn Công Trứ “Ngồi buồn mà trách ông xanh”, một Nguyễn Công Trứ không muốn làm người mà chỉ muốn làm cây thông ở kiếp sau. Lý do không muốn tái sinh làm người đã được tác giả nêu rõ :

“Khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười.”

Cuộc đời thì bao giờ cũng vậy, luôn luôn có đủ niềm vui và nỗi buồn. Sống trong cuộc đời ấy, được thành công, người ta thường vui sướng nở nụ cười mãn nguyện, gặp thất bại, người ta có thể khóc để cho tất cả buồn khổ trôi theo dòng nước mắt. Dù đã sống thủy chung, gắn bó với cuộc đời, Nguyễn Công Trứ đã không thể khóc, cười một cách thoải mái và tự nhiên như thế. Ngoài 40 năm sống trong cảnh nghèo của một hàn sĩ, 30 năm xuất chính tiếp theo là khoảng thời gian Nguyễn Công Trứ chịu nhiều thăng giáng liên tục để nếm trải đủ nhục vinh, khóc cười lẫn lộn trên hoạn lộ, từ đỉnh cao của danh vọng là chức Tổng đốc Hải An đến “hố thẳm” của thất vọng là thân phận người lính thú ở Quảng Ngãi. Thời hưu trí, dù đã ra khỏi “trường danh lợi vinh liền nhục” nhưng Nguyễn Công Trứ vẫn không thoát được “cuộc trần ai khóc lẫn cười”. Năm 1852, nhớ công ơn Nguyễn Công Trứ đã mộ dân khai khẩn đất hoang để lập nên xóm làng trù phú, dân huyện Tiền Hải dựng sinh từ để kỷ niệm rồi mời ông ra chơi và đón tiếp trọng vọng như một vị thánh sống. Tất nhiên là Nguyễn Công Trứ đã rất vui lòng khi nhìn thấy thành quả mỹ mãn của công cuộc dinh diền mà ông đã thực hiện từ hơn 20 năm về trước. Nhưng tình cảnh oái oăm, trớ trêu của “khi vui muốn khóc” đã tái diễn ở đây. Vì có tên thị vệ sàm tấu Nguyễn Công Trứ có “dị chí” khi để cho dân chúng tổ chức đón rước linh đình, vua Tự Đức nghi nhờ lòng trung thành của ông, cho triệu hồi vị công thần về kinh để xét hỏi cho ra lẽ. Nhờ nhà vua còn có đủ sáng suốt để hiểu rõ tâm can của vị lão thần nên Nguyễn Công Trứ đã may mắn thoát khỏi cái chết bi thương và oan uổng. Sống qua một đời người có quá nhiều buồn vui, khóc cười lẫn lộn như vậy, vào lúc thư nhàn, Nguyễn Công Trứ có lý do để “ngồi buồn” mà “ngán ngẩm cho kiếp người trôi nổi”. Nhưng nhà thơ của chí nam nhi không bao giờ có “tâm trạng bi quan”. Bởi lẽ, như thơ văn và cuộc đời của ông đã chỉ rõ, Nguyễn Công Trứ luôn luôn sống lạc quan tin tưởng, sẵn sàng đối đầu với nghịch cảnh, vượt qua mọi thử thách để thể hiện lý tưởng sống hào hùng của kẻ sĩ:

“Đã hay đường thế thời ra thế ,
Sạch nợ tang bồng mới kể người.”

Chúng tôi nghĩ Nguyễn Công Trứ không “bất lực và thoái thác đối với kiếp người”. Lý do là vì ông chối từ làm người để được làm cây thông ở kiếp sau với nhiều hoài bão và ước mơ về con người, về cuộc đời . Nhà thơ muốn làm cây thông vì thông xanh tươi trên vùng đất sỏi đá khô cằn, thông hiên ngang trong mưa gió rét mướt, thông là biểu tượng của lý tưởng sống “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” của bậc quân tử nho mà Nguyễn Công Trứ là một đại diện. Dùng thi ca để nói lên mong ước tái sinh làm cây thông, Uy Viễn Tướng Công như muốn thách đố người đời, như muốn nhắc nhở chúng ta hãy vượt qua mọi thử thách và gian nguy để sống vững vàng và có bản lĩnh trong cuộc đời này :

“Giữa trời vách đá cheo leo,
Ai mà chịu rét thì trèo với thông.”

Điều cần phân tích ở đây là cái dáng “đứng giữa trời mà reo” của cây thông. Để hiểu hết ý nghĩa của hình tượng văn chương này, chúng tôi thực hiện một liên hệ ngoài văn bản bằng cách trích dẫn câu văn biền ngẫu trong bài Tài tử đa cùng phú của Cao Bá Quát (? – 1854):

“Ngán nhẽ kẻ tham bề khóa lợi, mũ cánh chuồn đội trên mái tóc, nghiêng mình đứng chực chốn hầu môn;
Quản bao kẻ mảng cái dàm danh, áo giới lân trùm dưới cơ phu, mỏi gối quỳ mòn sân tướng phủ.”

Cao Bá Quát cùng làm quan dưới triều Thiệu Trị với Nguyễn Công Trứ. Bức tranh quan lại triều Nguyễn được Cao Bá Quát vẽ bằng gam màu tối như trên chính là trường danh lợi mà Nguyễn Công Trứ đã từng vào ra nhiều lần. Trong thời xuất chính, đã có khi nhà thơ biết thoát vòng danh lợi, vươn lên trên được mất và khen chê để sống “ngất ngưỡng” giữa triều đình. Tuy thế, trong suốt 30 làm tôi trung của nhà Nguyễn, dù không đến nỗi phải “mỏi gối quỳ mòn sân tướng phủ”, nhưng vị nho thần Nguyễn Công Trứ có thể đã hơn một lần“nghiêng mình đứng chực chốn” triều đình, không thể mạnh dạn cất lên tiếng nói trí tuệ của bậc sĩ phu đã có lần tự tín, tự hào nhìn nhận “kinh luân khởi tâm thượng, binh giáp tàng hung trung”, để chỉ còn biết mang “cái dàm danh” mà im lặng lắng nghe đấng quân vương tự nhận là thiên tử để phán những lời mà trăm họ phải nghiêm chỉnh chấp nhận là ý trời, là khuôn vàng thước ngọc…Có phải vì đã trải qua một thời để cho cái “khóa lợi” trói buộc mà đành phải sống gò bó, tù túng ở chốn triều đình, nên khi đã hồi hưu, nhà trí thức lỗi lạc của Việt Nam vào tiền bán thế kỷ XIX đã mong ước kiếp sau được sống đời tự chủ để được tự do nói lên tiếng nói trung thực của mình, như cây thông kia được “đứng giữa trời mà reo”?

Văn chương thường nói điều chưa nói bằng cách phủ nhận điều đã nói. Hiểu đặc tính của văn chương như vậy, giải thích hai câu thơ “Kiếp sau xin chớ làm người / Làm cây thông đứng giữa trời mà reo” bằng ý nghĩa như đã nêu trên, chúng ta biết rõ điều nhà thơ đã nói là không muốn làm người mà chỉ muốn làm cây thông ở kiếp sau, đồng thời, chúng ta cũng nhận biết tác giả đã phủ nhận điều đã nói ra ấy để nói điều chưa nói ra là mong ước được sống, được làm người một cách kiên cường và dũng cảm. Ở đây, Nguyễn Công Trứ chỉ mượn từ ngữ “kiếp sau” của Phật giáo để trình bày quan niệm sống nhập thế tích cực của Khổng giáo. Cho rằng Nguyễn Công Trứ không thấu hiểu Phật pháp* nên mới có ước nguyện tái sinh làm cây thông ở kiếp sau, từ đó phê phán nhà thơ đã “ước mơ hão huyền xa vời trong kiếp Tái sinh – Luân hồi ” thì có khác gì trách móc tác giả câu ca dao “Thương thay thân phận con rùa / Ở đình đội hạc ở chùa đội bia” không biết yêu thương con người mà chỉ biết thương yêu con rùa đá vô tri vô giác!

TP.HCM, 10 - 12 - 11

* Sự thật là Nguyễn Công Trứ đã có kiến thức sâu rộng về Phật học.Bằng chứng là vào những năm cuối thời hưu trí, sau khi bị triệu về kinh vì có tên thị vệ vu khống tội mưu phản, Nguyễn Công Trứ trở về quê cũ là làng Uy Viễn, “bỏ tiền tu sửa chùa Viên Quang và chùa Trung Phu, làm mấy gian nhà tranh ngay bên chùa để ở, thường cùng các Hòa thượng đàm đạo kinh Phật” (Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề, Việt Nam ca trù biên khảo, Tgxb, Sài gòn, 1962, tr. 625 – 626 ). Rất có thể bài hát nói Vịnh Phật thể hiện sâu sắc tư tưởng Phật giáo đại thừa đã được tác giả sáng tác trong giai đoạn này ( Hà Thúc Hoan, Đọc Vịnh Phật của Nguyễn Công Trứ, Đạo Phật ngày nay, tập 4, tr. 78 – 80 ).

Đọc thêm: http://trathomonline.blogspot.com/2011/06/suy-nghi-cua-nguoi-hoc-phat-ve-y-tho.html


Tình thương là mùa xuân, là niềm vui, là hạnh phúc, nếu tình thương ấy hoàn toàn chân thật, trong sáng, không biên giới, không ích kỷ buộc ràng.

Kinh Pháp Cú kể lại: Tôn giả Vakkali xuất gia vì thương Phật quá. Do thương Phật bằng tình thương ích kỷ buộc ràng, nên tôn giả thất vọng khi thấy Phật không quan tâm đặc biệt tới mình. Từ đó ngài đau khổ và không tu được.

Đức Phật dùng tâm đại từ vô duyên đối với tất cả chúng sanh mà Vakkali lại tự trói buộc mình trong vòng luyến ái hữu duyên, Phật vô ý mà Vakkali lại hữu ý. Mỗi khi đức Phật thuyết pháp, Vakkli cứ nhìn Như Lai trân trân nhưng không nghe không biết Như Lai nói gì, vì tâm tôn giả bị kẹt nơi sắc tướng và âm thanh của Thế Tôn, không thể mở ra để đón nhận giáo pháp vi diệu. Không muốn tôn giả chìm sâu trong si ái, đức Phật tránh mỗi khi Vakkali tìm cách thân cận riêng. Cuối cùng chịu hết nổi, Vakkali chọn con đường tự tử để không phải kéo dài nỗi khổ thêm nữa. Ngay khi ông định lao xuống vực, đức Phật xuất hiện với lòng từ vô duyên. Vakkali như người chết đuối vớt được chiếc phao cứu mệnh.

Tôn giả nói:

- Như Lai không bỏ con?

Phật bảo:

- Ta chưa bao giờ bỏ ông, chỉ có ông mới bỏ ông. Như Lai đã lập bày phương tiện, giúp ông khai mở tâm tư đón nhận giáo pháp, nhưng ông không chịu mở tâm ra, tự giam hãm mình trong ích kỷ si mê. Đó chẳng phải là ý muốn của Như Lai.

Bấy giờ Vakkali mới mở được đôi mắt tuệ ra, hiểu rõ Như Lai vẫn thương tưởng đến mình, nhưng không thương như mình từng nghĩ sai lầm. Ngài ăn năn sám hối và từ đó thoát ra khỏi lưới ái, lắng đọng tâm tư nghe Phật chỉ dạy, triển khai thiền định, chẳng bao lâu thành tựu được Thánh quả.


Đức Phật dùng lòng từ vô duyên, không gá duyên nên không bị cột trói bởi các duyên. Vô duyên từ của Phật và Bồ-tát, hạng phàm phu tục tử như chúng ta không dễ có được đâu. Phật độ chúng sanh là vì thương xót chúng ngu mê, bất luận người nào, loài nào, hễ thấy khổ là Phật độ, không ra điều kiện, không phân biệt thân sơ, không nghĩ tới bản thân mình được đền đáp lại. Tình thương của Phật bình đẳng, trong tình thương ấy không có luyến ái buộc ràng, không có cho đi đòi lại, không có sự trói buộc. Đây mới đích thực là một tình thương lớn, đúng nghĩa, chân thật.

Đức Phật từng thương chúng sanh như vậy và cũng mong mỏi chúng sanh khai mở được suối nguồn vi diệu ấy. Nhờ có tình thương mà tâm ta khoan dung độ lượng, bỏ tật xan tham keo xẻn. Tình thương làm cho mình mở rộng tâm vị tha. Phật dạy bốn vô lượng tâm từ, bi, hỷ, xả. Từ là ban vui, bi là cứu khổ, hỷ là vui vẻ tùy hỷ, xả là tha thứ buông bỏ. Bốn tâm này nếu được phát triển tột cùng, nó sẽ trở thành vô lượng. Muốn cứu khổ ban vui thì phải thương, không thương không làm được. Ví dụ thấy đứa bé bị té, ta chạy đến bế lên, vì thương sợ nó đau nên mới bế. Tình thương chân thành, vô phân biệt thì thấy bé nào té cũng bế. Tình thương ái nhiễm, trói buộc thì chỉ bế bé của mình, chớ không bế bé của người khác. Một khi đối xử phân biệt như vậy, bé của mình lỡ bị mất đi mình sẽ chịu không nổi. Chúng ta thường chỉ cứu người ta thương, còn người ta ghét thì cho… chết luôn. Như vậy không có chút xíu nào từ tâm cả, không phải là con Phật, không phải là người tu hạnh Bồ-tát. Đại bi là lòng thương rộng lớn không có ranh giới, không có đối tượng riêng biệt. Bồ-tát thấy ai khổ cũng cứu, không phân biệt thân sơ, không thương ghét để lòng.

Tình thương không phân biệt, không có điều kiện sẽ không có sự trói buộc, khổ đau. Chúng ta thấy đức Phật không bao giờ khổ. Ngược lại chúng ta thương có đối tượng, cho và nhận đều tính toán kỹ càng nên khổ. Mình cho người ta ít mà đòi lại khá nhiều. Như vậy là ăn gian. Nếu có đòi cũng đòi ít thôi, đừng có đòi quá, đòi quá sẽ mắc nợ trở lại, vay trả hoài mệt lắm. Tất cả sự đổ vỡ trong cuộc đời, chỉ có ta mới biết mấu chốt ở chỗ nào mà xây dựng lại, làm lành trở lại. Phải là ta tự cứu ta, rồi sau đó chia sẻ cho mọi người. Đã là ta tự cứu ta thì đâu có trả giá, dù làm lợi ích cho người nhưng vẫn là viên mãn hạnh nguyện lợi tha cho chính mình, như vậy đâu có gì để so đo tính toán nữa. Bồ-tát rõ biết thế ấy nên các ngài phát triển hạnh đại bi vô tận, vẫn không cảm thấy mệt mỏi.

Quanh ta trong cuộc đời, rất nhiều những con người thầm lặng đến rồi thầm lặng đi, không chút lưu dấu mà chan chứa bi trí tròn đầy, để lại trong lòng nhân sinh những khoảnh khắc giật mình. Giật mình nên tỉnh, biết nghĩ lại. Sao ta không thể yêu thương cả trần gian này, mà chỉ yêu thương có một vùng? Trái tim con người vì thế bị siết chặt trong chiếc thòng lọng của vô minh khát ái, để rồi phải thản thốt kêu lên tuyệt vọng giữa cuộc đời vẫn còn nhiều tấm lòng trong sáng, rộng mở luôn hướng về mình. Thật tiếc quá!

Phật bảo tháo gỡ sự trói buộc tức thì giải thoát thong dong, tự tại. Tháo được hay không là do sự quyết tâm, ý chí và nghị lực của mỗi người. Tháo được thì khỏe, tháo không được thì mệt, cho nên phải ráng tháo cho được. Đó là chuyện sống còn của ta, chớ không phải của ai khác. Đức Phật, chư vị Bồ-tát và thiện hữu tri thức đã hết lòng tiếp sức cho chúng ta rồi. Tệ lắm thì mình cũng phải bắt chước tôn giả Vakkali, một lần đứng trước cửa tử rồi muôn thuở sống lại với chính mình, chấm dứt tử sinh, đem mầm sống mới đến cho muôn loài.

Một chiều cuối Đông, thật bất ngờ khi tôi gặp em, nghe em đọc lại những dòng chữ năm xưa chính tôi đã viết:

… Cơn đói khát lên tiếng cồn cào, chiếc thân gầy nhũn xuống mặc cho đôi tay vẫn trơ lỳ đờ đẫn. Và giữa lúc ấy, giữa lúc mà tia hy vọng mong manh sắp tắt thì một bàn tay bé bỏng ấm áp đặt lên, xiết chặt đôi tay già còm cõi giá rét. Để từ đó, hai cảnh đời, hai tâm hồn kết tập thành một bài kinh:

- Cháu xin lỗi ông, cháu đã tìm khắp, đã lục lạo trong túi áo, trong cặp, trong thân mình. Cháu muốn biếu ông một vật gì đó, chút xíu thôi cũng được, nhưng cháu không có một cái gì cả.

- Cám ơn cháu… Cháu… đã cho ông… thật nhiều.

Và cứ thế, bàn tay vẫn trong lòng bàn tay. Một già một trẻ, một dòng suối cam lồ tuôn chảy giữa đôi cung bậc đầu và cuối trong bản giao hưởng về đời người. Giây phút ấy thật ngắn ngủi mà cũng thật thiên thu!

Em đọc bằng trái tim, đôi tay lướt trên những dòng chữ Braille (chữ nổi) kỳ diệu, đã tiếp thêm cho tôi một sức sống nhiệm mầu. Tất cả chúng ta hãy đến với cuộc đời bằng trái tim và lòng vị tha chân thành. Mười năm trước tôi đã cảm ơn em, một em bé giàu lòng nhân ái và thật sự làm cho người ta phải mở rộng lòng yêu thương. Mười năm sau tôi lại cảm ơn em, một người bạn khiếm thị đến với đạo, với cuộc đời bằng tất cả nỗ lực bình sinh của tuổi thanh xuân.

Và còn nữa… còn nữa những mười năm để đưa tất cả chúng ta đến thật gần với mùa xuân, với tình thương bất tận tròn đầy.

HẠNH CHIẾU



Năm mới đã đến bên thềm, khẽ thì thầm gõ cửa lòng ta và nhắc: này, cậu sắp thêm một tuổi. Đừng rong chơi nữa nhé. Mình đã mỉm cười, tặng cho lời nhắc yêu thương mà năm mới dành cho một kẻ hành khất lang thang là mình.

Vâng, mình lang thang đi trong cõi mộng, nhặt từng chút bình an và yêu thương mình đã lỡ phung phí, đánh rơi trong suốt hành trình sanh tử, xuống lên sáu đường.

Nhặt lại để cho yêu thương vẫn tràn đầy, cho bằng an vẫn còn đâu đây trong tâm mình chứ không phải đã chạy mất hút. Thực ra, nói bằng an và yêu thương bị đánh rơi là mình đã hình tượng hóa cho dễ hiểu thế thôi, nhưng nó bị ẩn dật, dưới dạng một gen “lặn” và để cho những “hạt giống” trội như là hoài nghi, ích kỷ lấn át, chi phối, làm chủ thân-tâm mình. Và mình thấy như là mình vô cảm, không có một chút yêu thương nào, không có bằng an…

Mình đã từng, nên mình hiểu. Có thể trong trùng trùng tử sanh và có thể trong hiện tiền kiếp này mình đã từng! Nếu có học Phật, tin Phật, hành theo Phật thì mình sẽ thấy lớp lang những tâm hành bất an và hạnh phúc đã từng có, từng biểu hiện đan xen trong mình. Và có nhận diện đó, thì mình sẽ bắt đầu kiến tạo một tình thương và bằng an lớn hơn, bằng cách học và hành giới-định-tuệ.

Giới là thầy, là nguyên tắc giúp mình rèn thân và tâm, để mình có những thăng hoa trong đời sống và tu tập. Do vậy mà những ai là con Phật đều hiểu rõ một điều: giới luật bảo hộ thân-tâm, chứ không phải là sợi dây trói buộc. Và vì vậy, hễ ai gìn giữ giới (những nguyên tắc đạo đức cao thượng) thì tự khắc đời sống tâm linh được thăng hoa, những giá trị của tình thương và sự hiểu biết “tìm về” - biểu hiện dưới dạng hạt giống trội.

Bên thềm năm mới, mình có suy nghĩ về những giá trị cao thượng và quán chiếu nó dưới cái nhìn của một người Phật tử để rồi trở về an trú với chính sự mầu nhiệm của pháp thân, ở đó có hơi thở, nụ cười. Chính phương tiện, chất liệu của thân, hơi thở, nụ cười ấy đã dẫn mình đến chánh niệm, đến tư duy sáng suốt, hành động dần được đúng đắn…

Sự kết nối ấy như những móc xích để đi tới với đích: trí tuệ. Thầy mình từng nhắc rằng: “Con biết người tu lấy gì làm sự nghiệp không? Tất nhiên đó là trí tuệ (duy tuệ thị nghiệp)”. Vậy là, suy nghĩ tới đây mình lại học thêm một bài học giá trị từ sự thực tập ngay thềm năm mới.

Trước thềm năm mới, mình có cơ hội để nhớ về năm cũ, với những sự biểu hiện của toàn cảnh thế giới, với những nỗi đau, những bất ổn vẫn còn đó, diễn ra đâu đó, ở nơi này, nơi kia.

Đó là sóng thần, động đất ở Nhật Bản vào ngày 11-3, là cuộc khủng hoảng tài chánh-tiền tệ diễn ra trên toàn cầu với những âu lo, đau khổ vì mất việc, vì chất lượng cuộc sống suy giảm… Chiến tranh và những vết thương môi trường đang là nỗi ưu tư không chỉ của lãnh đạo các quốc gia mà trong mỗi con người hiện đại có ý thức về vấn đề này. Tiếng chuông của thiên tai, tật bệnh… có lẽ đã nhắc con người tỉnh thức để quán niệm về tình thương bằng cách “sống cho muôn người”, bằng cách sống hài hòa hơn với thiên nhiên, đất mẹ. Tất cả những cái nhớ ấy nếu được nuôi dưỡng mỗi ngày thì có lẽ lòng từ của mình cũng sẽ được tưới tẩm để nở hoa nhiều hơn.

Năm mới-mùa xuân là cơ hội làm mới. Làm mới bằng cách “phản quan tự kỷ”, bằng cách quán chiếu sâu và nguyện sống có trách nhiệm với mình, với người, với quê hương, đất nước và với “ngôi nhà chung” Trái đất cũng chính là mình đang thực tập sống theo tinh thần lời Phật dạy.

Có lẽ đó mới là phẩm vật cúng dường có ý nghĩa và đúng theo tinh thần của bài niệm hương mà mình vẫn niệm: “Giới hương, định hương, giữ huệ hương/ Giải thoát, giải thoát tri kiến hương”. Vâng, giờ khắc giao thừa mình sẽ niệm hương và nguyện cúng dường hương giới, hương định, hương tuệ và hương giải thoát ấy từ việc sống ngay thực địa này, với một lối sống tròn đầy thương yêu, tròn đầy tuệ giác chứ không phải hời hợt qua ngày.

Cảm ơn năm mới, cảm ơn thầy, bạn đồng tu, cảm ơn những nhân duyên hội ngộ với những người có cùng tâm nguyện để ta có cơ hội chiêm nghiệm, trải lòng…

Lưu Đình Long

Happy new year 2012.jpg
Năm 2012, cầu nguyện cho thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc - Ảnh: Internet

Copyright © NhocLak.Com .