Tỳ Kheo Bodhi
Người dịch: Đào Viên
Hồi đó là tuần lễ đầu tiên của tháng 8, năm 1965, sau khi học xong khóa hè, tôi dự bị sẽ đi California từ Nữu Ước bằng xe hơi. Ngày ấy tôi mới 20 tuổi và sang tháng 9 là tôi sẽ vào năm thứ tư Đại học Brooklyn. Tôi muốn đến thăm một người bạn. Anh ta đang ở San Francisco mùa hè ấy. Tôi cũng đã thu xếp để đi theo mấy người bạn. Chúng tôi khởi hành từ một quán ăn nhỏ gần Đại học Brooklyn vào một buổi sáng thứ Hai, và sau khi lái xe cả ngày trên đường, chúng tôi dừng lại ở Madison, Wisconsin, để ngủ đêm nhờ nhà một người bạn đồng hành.
Lối vào trường Đại học Wisconsin
Đấy là lần đầu tiên tôi được đi qua phía Tây của dãy núi Pocono, điều đó làm tôi rất thích thú. Sau một đêm ngủ khỏe, sáng hôm sau, tôi quyết định đi bộ một lúc. Đó là một buổi sáng nắng ấm. Tôi thả bước qua những phố vắng để đến một cái hồ lớn rất đẹp nằm cạnh Đại học Wisconsin. Đi theo đường đất vào phía trong, tôi tiến vào khuôn viên của trường Đại học. Tôi đang vào trung tâm khuôn viên thì một sự việc rất đáng ngạc nhiên đã xẩy ra. Ở tầm mắt bên phải của tôi, cánh cửa ra vào tòa nhà bằng đá bỗng nhiên mở ra và một người đàn ông trung niên, nét mặt miền Đông Á, mặc áo dài rộng mầu vàng, bước ra. Theo ngay sau là một người Mỹ cao lớn bước theo bắt kịp vị đàn ông đó và hai người sánh vai vừa đi vừa nói chuyện.
Ngay lập tức, tôi biết là tôi đang thấy một nhà sư. Tôi chưa bao giờ gặp một nhà sư nào, và hồi ấy, ở Hoa Kỳ số nhà sư thực sự có thể đếm trên đầu ngón tay của một bàn tay. Mấy tháng trước, tôi đã bắt đầu đọc về đạo Phật, và qua cuốn sách “Siddhartha” của Hermann Hesse, tôi đã biết là các nhà sư đều mặc áo mầu vàng nghệ.. Do đó, tôi nhận ra ngay con người tôi trông thấy là một Tỳ Kheo. Tôi cảm thấy rất ngạc nhiên và khích động khi thấy vẻ bình thản và tự tại của con người ấy, đang toát ra một sự thư thái, sự mãn nguyện của nội tâm, cùng vẻ trang nghiêm mà tôi chưa từng thấy ở một người Tây phương nào. Người Hoa kỳ đi bên cạnh, dường như một là vị giáo sư, có vẻ như rất kính trọng và nể nang người đó. Điều đó khiến tôi nghĩ rằng ông ấy không phải là một ông sư bình thường mà là một người có một vị thế cao. Chỉ nhìn ông ta đi qua, tôi đã cảm thấy biết bao thích thú và hạnh phúc. Tôi nghỉ tình cảm của tôi lúc ấy cũng như tình cảm của một thanh niên Bà La Môn xứ Ấn Độ ngày xưa, khi anh ta ngước lên và lần đầu tiên nhìn thấy, bước trên một lối đi gần anh ta, một vị đệ tử của con người khổ hạnh Gautama, người được mọi người gọi là “”Đấng Giác Ngộ”.
Lúc ấy, tôi chỉ đứng cách họ khoảng 60 thước, tôi muốn đến gần hỏi thăm nhà sư và tham vấn nhiều câu khác nữa, nhưng tôi nhát quá và cũng không muốn tỏ ra điên khùng mà làm như vậy. Thế là tôi chỉ trân trân đứng nhìn, mắt chăm chú quan sát mọi cử chỉ của ông ta suốt bốn năm phút khi hai người bước qua sảnh đường. Quả thật là tôi đã chết trân ra đấy, như đã vào một nhân sinh pháp giới khác. Trong tâm tôi sôi lên một niềm ao ước. Tôi nghĩ lúc ấy nếu có ai đứng sau mà chích tôi bằng một cái kim, tôi sẽ chẳng cảm thấy gì, bởi vì đầu óc tôi đã để hết cả vào nhà sư đang đi qua. Thế rồi, nhà sư với vị giáo sư tới một tòa nhà khác, ông giáo sư mở cửa, và hai người biến mất vào trong đó. Tôi vẫn còn cảm thấy thích thú được gặp nhà sư, nhưng sự thích thú đó nay đã bị một chút buồn bã chen lấn vào. Lòng nặng trĩu khi thấy cuộc gặp gỡ đã qua đi, và tôi đã mất cơ hội tìm đến một nguồn tuệ giác còn tại thế, đến từ Đông phương. Bây giờ tôi chỉ có thể nghĩ rằng nhà sư tuyệt vời đó đã đi mất, tôi phải đi đưòng tôi và chúng tôi sẽ không bao giờ gặp nhau nữa.
Trường Claremont Graduate School, California
Quả thực là nghiệp báo đã vận động một cách kỳ lạ và bất ngờ. Khoảng hơn một năm sau đó, vào tháng Chín năm 1966, tôi ghi danh vào Đại học Claremont Graduate School tại tiểu bang California (25 dặm phía đông thành phố Los Angeles), để theo học môt chương trình tiến sĩ Triết học. Lục cá nguyệt mùa Xuân năm ấy, có một nhà sư từ Việt Nam đến học Claremont và dọn đến ở ngay tầng dưới cùng khu nội trú với tôi. Ông vày không có gì là “thư thái và tự tại” như vị sư tôi gặp ở Wisconsin, mà là một loại “hỷ lạc chi nhân”, hay chơi đàn banjo, thích nghêu ngao hát nhạc dân ca Việt Nam, hút thuốc lá Pháp, nấu những món ăn với thịt heo và thịt gà (mặc dù vì là một nhà sư Đại thừa, đáng lẽ ông ta phải ăn chay) và lại học khoa Chính Trị – một môn học ông ta hay nói tới một cách bạo dạn có thể làm cho Henry Kissinger phải phát ngượng. Vì những lẽ đó, cho nên mặc dầu tôi ưa thích Phật giáo, tôi phải “kính nhi viễn chi” nhà sư nầy. Tuy vậy, một khi biết ông ta rõ hơn, tôi cũng ưa ông ta và rồi nhận ông ta là người thầy Phật học đầu tiên của tôi.. Sang đến mùa Hè năm 1967, chúng tôi đã cùng chia chung một phòng của khu nội trú cho sinh viên Cao học và ít lâu sau, cùng ra thuê một căn nhà nhỏ ngoài khuôn viên của trường.
Thượng Tọa Thích Minh Châu
Một hôm (có lẽ là vào tháng 11 năm 1967) ông sư bạn tôi bảo tôi là có một vị Thượng tọa từ Việt Nam, tên là Thích Minh Châu, hiện đang ở Hoa Kỳ và ngài sẽ đến Los Angeles một ngày gần đây. Ông bạn tôi nói là Thượng toạ Minh Châu là Viện trưởng Đại học Vạn Hạnh và là một nhà trí thức vẹn toàn. Thượng Tọa đã có bằng Tiến sĩ từ Đại học Phật Giáo Nalanda bên Ấn Độ và ngài đang soạn thảo một bộ sách nghiên cứu đối chiếu hai bộ Trung Bộ Kinh viết bằng Pali và Kinh Trường A Hàm Đại Thừa viết bằng Hán tự. Ông sư bạn tôi cho biết sẽ đi Los Angeles để đảnh lễ Thượng tọa Minh Châu và mời tôi cùng đi theo.
Thế là một buổi sáng tươi đẹp mùa Thu năm ấy, chúng tôi đã đến căn nhà một gia đình Việt Nam mà Thượng tọa Minh Châu đang tạm trú. Khi Thượng tọa từ phòng riêng đi ra, tôi thấy đó là một người trung niên mặc áo cà sa vàng, đi đứng bình thản vững chãi, người toát ra một vẻ tử tế đầy trí huệ. Quả thật ông ta trông giống như vi sư mà tôi đã gặp hai năm trước đây khi người bước qua khuôn viên Đại học Wisconsin. Tuy nhiên, tôi không chắc lắm vì không có gì là chắc lại có thể có hai nhà sư Đông Á trông giống nhau. Tôi đã trông thấy vị sư ở Wisconsin cách sáu bẩy mươi thước, nên tôi không thấy rõ mặt lắm. Tôi đành phải chịu khó ngồi chờ để cho chủ nhà và ông sư bạn tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt xong đã. Khi có cơ hội, tôi mới hỏi Thượng tọa: ” Thưa đây có phải là lần đầu tiên Ngài sang Hoa Kỳ không?”. Ông ta trả lời: “Thưa không, tôi đã ở đây vài năm về trước”. Chỉ chờ đợi có thế, tôi hỏi tiếp: “Thưa có phải là Ngài đã ở trong khuôn viên Đại học Wisconsin vào tháng Tám năm 1965 không?”. Và ông ta trả lời: “Đúng vậy, hôm ấy tôi đến thăm một người bạn tôi là giáo sư Richard Robinson. Hôm đó , ông Robinson vừa bắt đầu một chương trình nghiên cứu Phật Học tại đấy”. Tôi kể lại hôm ấy tôi đã thấy Ngài từ xa đi qua Khuôn viên Đại học. Ông ta cười nhẹ và nói: ” Thế thì đây không phải là lần đầu tiên chúng ta gặp nhau”.
Nhiều năm sau, khi Thượng Tọa Minh Châu trở lại Hoa Kỳ, (chắc khoảng năm 1969) người ở lại vài ngày tại nhà trọ của chúng tôi ở Claremont. Tuy nhiên, khi tôi chuẩn bị sang Á Châu để thọ bồ tát giới và học Phật Pháp, Thượng Tọa đã có nhiều lời khuyên bảo hữu ích và cho tôi một thư mở giới thiệu đến các bậc tôn túc của giáo hội Phật giáo bên Á Châu.. Tôi giữ kỹ bức thư đó và tôi vẫn còn có thư đó khi tôi đến Kandy. Tưuợng tọa đã đề nghị với tôi là khi đến Sri Lanka, tôi hãy thọ giáo với Ngài Nyanaponika MahaThera. Tôi đã đi tu ở đó bẩy năm nhưng vẫn chưa học được đầy đủ. Trong năm đầu, tôi thảng hoặc viết thư cho Thượng tọa Minh Châu dể tham vấn và người bao giờ cũng trả lời tôi rất sớm và đầy đủ.
Năm 1975, khi Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản, tôi không còn liên lạc với người nữa, nhưng khi tôi chuẩn bị cuộc nói Pháp nầy, nhớ lại những cuộc gặp gỡ trước đây một cách sâu sắc, tôi thấy tôi phải tìm cách hỏi xem người ra sao. Nhờ mạng lưới Internet, qua một người Việt Nam ở bên Úc Châu, tôi được biết là Thượng tọa vẫn còn ở thành phố Hồ Chí Minh, nhưng nay thì rất yếu và bị bệnh Parkinson. Người chắc đã phải gần 90 tuổi. Tôi viết cho người một lá thư, và gửi điện thư (e-mail) đến người Việt Nam bên Úc, nhờ ông ta chuyển thư ấy đến người bạn ông ta, cũng là một tu sĩ Phật giáo, từng là đệ tử của Thượng tọa Minh Châu.
Trong vài chục năm vừa qua, trước khi mắc căn bệnh tàn hại, Thượng tọa Thích Minh Châu đã dịch bốn bộ Kinh A Hàm từ tiếng Pali sang tiếng Việt. Tôi chỉ biết được điều đó mới gần đây thôi. Bây giờ đây là một chuyện kỳ thú và lạ lùng đã xẩy ra làm mọi người phải thắc mắc. Vào cái ngày đầu tháng Tám năm 1965 ấy, có một chàng sinh viên Hoa Kỳ mới 20 tuổi, một anh chàngngày nào đó sẽ trở nên người đồng dịch giả Trung Bộ Kinh, dịch
Bộ kinh A Hàm của thượng Tọa Thích Minh Châu (dịch sang tiếng Anh)
giả Tương Ưng Bộ Kinh, và (hy vọng) một ngày nào đó sẽ dịch cả Tăng Chi Bộ Kinh, đã vì một sự tình cờ, được gặp một vị sư Việt Nam, lớn hơn anh ta lối ba chục năm, cũng đang dịch bốn cuốn kinh đó sang tiếng Việt.. Anh chàng sinh viên Hoa Kỳ ngày đó chẳng liên quan gì đến Phật học mà chỉ mới bắt đầu đọc ít sách về Phật giáo mà thôi. Anh ta không có ý định gặp vị sư, mà thực ra cũng đâu có giáp mặt nhau đâu.. Nhìn dưới khía cạnh nhân quả khách quan, thì cuộc gặp gỡ chỉ là một sự trùng hợp. Chàng sinh viên Hoa Kỳ chỉ ngẫu nhiên đi vào một thành phố anh tình cờ đến, nhìn thấy vị Thượng tọa từ xa, để rồi ra đi không biết vị đó là ai. Vị sư cũng không nhìn thấy chàng thanh niên Hoa Kỳ này.
Cái gì đã làm tôi quyết định đi tảo bộ sáng hôm đó, rồi rẽ khỏi đường quanh hồ mà đi vào khuôn viên đại học, đúng chỗ đó và lại đúng lúc đó?. Có thực đó chỉ là một sự tình cờ, một chuỗi những quyết định ngẫu nhiên? Nếu đã nêu lên những câu hỏi đó thì hãy hỏi thêm: Có một cái vòng duyên khởi nào nối kết chuyến đi California của tôi với chguyến đi Wisconsin của nhà sư đúng lúc ấy không? Nếu tôi nhớ không lầm thì chúng tôi đã định khởi hành hai ngày trước, nhưng vì có một chút kẹt vào lúc cuối nên chúng tôi phải dời chuyến đi đến sáng thứ Hai ấy. Nếu chúng tôi đã đi đúng ngày giờ như đã tính thì buổi hội ngộ với nhà sư chắc đã không xẩy ra.
Khi tôi rời trường Đại học, yên chí rằng mình sẽ không bao giờ gặp lại nhà sư ấy nữa, tôi không bao giờ ngjhĩ trong thâm tâm làm gì để gặp lại con người ấy. Tuy nhiên, tôi đã lấy một chuỗi những quyết định, trong thâm tâm không cố ý, đi đến việc gặp lại nhà sư lần nữa mà lần này, hai người chúng tôi đã là con Phật. Tôi đã chọn học Cao học tại một Đại học mà tại đó tôi đã gặp và trở thành bạn hữu với một nhà sư Việt Nam khác, tuy rằng tôi khi vào đó học tôi không biết vị sư ấy cũng học trường nầy (đúng hơn, không biết cả có sư sãi Việt Nam nữa). Và qua người bạn này, tôi được gặp lại vị sư tôi đã gặp hai năm trước, một vị sư có một phong thái đã làm tôi rất chú ý mặc dầu tôi không biết là hai nhà sư này lại quen biết nhau. Dù tôi biết là Hòa thượng Thích Minh Châu đã viết một cuốn sách nghiên cứu đối chiếu hai bộ Trung Bộ Kinh viết bằng Pali và Kinh A Hàm Đại Thừa viết bằng Hán tự, nhưng hẳn nhiều năm sau, khi tôi bắt đầu dịch những kinh viết bằng Pali (sang tiếng Anh), tôi vẫn chưa biết là Thượng tọa đã dịch sang tiếng Việt rồi. Và cả hai bản dịch của chúng tôi, sang tiếng mẹ đẻ chúng tôi, gần như giống hệt nhau. Phải chăng điều đó đã được tiên liệu bởi cuộc gặp gỡ ở Đại học Wisconsin, nơi mà tôi chưa bao giờ trở lại sau cuộc gặp gỡ và có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ quay lại nữa trong đời?
Tiểu sử Tỳ Kheo Boddhi
Tỳ kheo Boddhi, người Hoa kỳ
Tỳ kheo Boddhi, người Hoa Kỳ, tên thực làJeffrey Block, sinh năm 1944, tốt nghiệp Cử Nhân Triết học đại học Brooklyn (Nữu Yước). Năm 1972 ông lãnh bằng Tiến Sĩ Triết học đại học Cao Học Claremont. Năm 1967, trong khi còn là sinh viên Cao học, ông đã làm Sa di trong một truyền hống Đại Thừa Việt Nam. Đến năm 1972, sau khi tốt nghiệp, ông sang Tích Lan thọ giáo Sa Di với Ngài Ananda Maitreya, và chính thức gia nhập giòng Phật giáo Nguyên Thủy tại đó.
Năm 1984, nối tiếp Ngài Nyanaponika Thera, ông được bổ nhiệm làm tổng biên tập Anh ngữ tờ Buddhist Publication Society (BPS, Sri Lanka), để rồi trở thành Chủ tịch tờ đó năm 1988.
Năm 2000, trong đại lễ Vesak đầu tiên tại trụ sở Liên Hiệp Quốc, Tỳ kheo Boddhi đã đọc một bài diễn văn quan trọng.
Đến năm 2002, sau khi không còn làm cho BPS nữa, ông trở về Hoa Kỳ. Hiện ông giậy Phật học tại Tu Viện Bồ Đề, ở Lafayette, New Jersey, và Tu Viện Trang Nghiêm (Chuan Yen) (Camel, New York) và làm Chủ Tịch tổ chức Yin Shun (Ấn Thuận) Foundation
Hiình ảnh H.T Thích Minh Châu:
Từ nguồn Giác Ngộ Nguyệt San số 191 P.L 2555- tháng 2- 2012
Ngày mồng 02 tháng Giêng năm Nhâm Thìn – 2012.
Hòa thượng Thích Thái Hòa đã có buổi pháp thoại dành cho học chúng chùa Phước Duyên, Ban Hướng Dẫn GĐPT Thừa Thiên và Ban điều hành GĐPT VN Trên Thế Giới, Ban Thị Giả Thư Viện Cổ Pháp. Buổi sáng trời hanh nắng, sau bao tháng chìm trong những cơn mưa lạnh buốt của xứ Huế. Lúc 7 giờ 30 phút , toàn thể thiện nam tín nữ, phật tử các giới có mặt tại giảng đường Như Lai chuẩn bị cung đón quý tôn đức.
Trước buổi giảng pháp, Thầy đã hành lễ cầu gia bị, lễ Phật đầu năm. Sau đó là lời tác bạch của đại chúng thành tâm dâng lên Thầy đôi lời chúc tết. Thầy đã nói pháp thoại cho hơn 500 thính chúng, xin mời quý vị cùng nghe lại, toàn cảnh xuân Nhâm Thìn tại Phước Duyên tự.
Nay Ban biên tập Vẻ Đẹp Phật Pháp trân trọng giới thiệu thêm một DVD, giảng pháp của Thầy Giáo thọ dành cho học trò tại Miền Nam tại Thiền đường Trăng Rằm. Đây là lời giáo huấn sâu sắc làm thăng hoa hoặc băng hoại tâm đồ bản nguyện ban đầu khi đến với nhau trong tinh thần Phật dạy. Một món quà tâm linh đầu xuân đầy hoa trái từ bi, chất liệu giải thoát….
Pháp Hành Của Người Phật Tử Trong Thời Đại Chúng Ta - HT Thích Thái Hòa
Khi thời gian bị bóc lột
Annie Dillard đã viết: “Cách chúng ta sử dụng thời gian trong ngày chính là cách chúng ta sống trong cuộc đời”. Chúng ta đã sống một ngày như thế nào? Chúng ta đã tận hưởng nguồn vốn thời gian đời mình như thế nào? Có chút luyến tiếc hay hối hận nào không khi ngoảnh lại tự hỏi như một nhà thơ: Ta đã làm chi đời ta?
Trong bộ phim “In Time” đang công chiếu, một phim khoa học viễn tưởng đem đến cho người xem cảm giác... ngột ngạt về sự bóc lột không đếm bằng tiền mà bằng thời gian: từng phút, từng giây. Trong phim, từ năm 25 tuổi, cái đồng hồ thời gian sẽ hiện lên trên cổ tay trái mỗi người. Bước vào đời, đi làm được trả công bằng thời gian, tiêu xài cũng tính bằng thời gian. Ăn một cái bánh, uống một ly nước, đi một chuyến xe..., tất thảy đều tính vào cái đồng hồ thời gian đó. Nhịp sống cứ thế mà trôi theo tiếng tích tắc của đồng hồ. Kịch tác gia kiêm đạo diễn Andrew Niccol đã hình dung ra một xã hội như thế. Ông đã bổ sung cảnh một bà mẹ tặng con mình một nửa thời gian để con được bữa ăn trưa, và khi không còn đủ thời gian để đón xe đi gặp lại con, bà đã chết trong tay người con đang đem thời gian về cho mẹ. Nếu cả hai mẹ con kịp chạm tay nhau sớm hơn một giây, “ngân sách” thời gian từ tay người con sẽ được chuyển qua tay người mẹ và bà đã không phải chết tức tưởi vì trước đó, gã bán vé xe đã nhất định không bán thiếu cho bà nửa giờ!
Khi bạn nhờ ai làm công việc gì đó, bạn cũng sẽ phải trả công anh ta bằng thời gian. Người xem rùng mình vì cái giá của thời gian: sự sống và cái chết. Ngân quỹ thời gian của mỗi đời người thì có hạn vậy mà chúng ta đã và đang lãng phí vốn thời gian từng ngày từng giờ. Hãy ngồi nhẩm tính: một đời người hưởng được bao nhiêu năm khỏe mạnh và hạnh phúc, bao nhiêu mùa xuân? Chúng ta đã dùng thời gian mình như thế nào? Bao nhiêu thời gian của chúng ta bị tước đoạt, lãng phí?
Trong cuộc khảo sát 2.500 nhân viên văn phòng trong mọi ngành nghề tháng 8, website Salary đã có được những con số thống kê đáng kinh ngạc:
73% số người tham gia trả lời câu hỏi phỏng vấn thừa nhận rằng: họ tiêu tốn khá nhiều thời gian cho những hoạt động không hề liên quan gì đến công việc, (và con số 73% hiện nay đã tăng 10%). Cụ thể số liệu đó như sau:
48%: Sử dụng internet vào việc riêng; 33%: Tán gẫu với đồng nghiệp; 30%: Dành cho các công việc làm thêm khác; 19%: “Buôn chuyện” qua điện thoại; 15%: Nghỉ giải lao hoặc ăn trưa quá lâu.
Vì đâu con người lại lãng phí thời gian? Theo họ thì hầu hết cảm thấy chán nản công việc họ đang làm và họ cảm thấy thời gian làm việc quá dài. Lương thấp và nhiều lý do khác như họ không cảm thấy thoải mái trong môi trường làm việc có quá nhiều áp lực được đưa ra minh chứng cho lý do khiến mọi người không muốn tập trung hoàn toàn công sức cho công việc, cụ thể số liệu khiến nhiều người ngạc nhiên, trong đó có 42% số họ thừa nhận lãng phí thời gian vì phải tham gia các buổi meeting, hội họp; 33% thời gian lãng phí cho các công việc liên quan đến thủ tục hành chính rườm rà…
Còn những nhà quản lý thì sao? Những nhà quản lý lãng phí thời gian quý giá thường không đủ thời gian làm những việc quan trọng cho doanh nghiệp, không sắp xếp được thời gian để phát huy sở trường và tiềm năng của mình. Họ thường xuyên ở trạng thái căng thẳng vì áp lực thời gian và không có thời gian chăm sóc cá nhân. Câu giải thích cửa miệng cho việc này là tại bận quá, tại họ không còn thời gian. Thay vào đó, họ chuyên làm những việc lặt vặt, làm thay những việc từ nhỏ đến lớn cho nhân viên, hoặc thời gian làm mọi việc bị động, phụ thuộc vào lịch làm những việc không quan trọng. Nhiều nhà quản lý không đủ thời gian giải bài toán quản lý thời gian của mình, trễ nải trong công việc hoặc từ chối nhận thêm việc theo trọng trách.
Ai đã đánh cắp thời gian của họ?
Không ai khác ngoài chính họ. Nhà quản lý lãng phí thời gian bởi không ở thế chủ động quản lý thời gian, quản lý chính cá nhân mình và cái giá của sự bị động chính là biến tài sản quý giá này thành chi phí của doanh nghiệp.
Họ không hề lập kế hoạch công việc hay lịch làm việc, mơ hồ mục tiêu, kết quả mong muốn, thời lượng, bắt đầu - kết thúc, độ ưu tiên. Với những công việc liên quan không thuộc trọng trách, vẫn không ủy quyền cho nhân viên thực hiện. Không hề thực hiện châm ngôn “Giờ nào việc nấy” - Làm đúng theo kế hoạch làm việc - Chưa kể các buổi họp triền miên dài lê thê không kết quả. Như đã nêu trên, những việc liên quan đến thủ tục giấy tờ, hành chính cũng “bóc lột”, vô tình hay cố ý làm cho quỹ thời gian chúng ta bị hao mòn, thất thoát đáng kể.
Trên bình diện quản lý vĩ mô, chúng ta đã từng thừa nhận “Tốc độ cải cách hành chính còn chậm, kết quả còn chưa đạt được so với mục tiêu chung đặt ra là “đến năm 2010 xây dựng được một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại” (Bài phát biểu về Tổng kết cải cách hành chánh do Bộ trưởng Nội vụ Trần Văn Tuấn trình bày).
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới những hạn chế, yếu kém nói trên có liên quan tới tệ cửa quyền, quan liêu, tham nhũng vẫn còn, tính công khai, minh bạch của nền hành chính còn nhiều thách thức...
Thời gian là vốn quý của đời người
Người ta đã thử tính sơ bộ số thời gian bị mất do kẹt xe tắc đường riêng tại TP.HCM đã làm thiệt hại khoảng 1.000 tỷ đồng (dự toán 2009) đến nay chắc phải cao hơn nhiều, chưa kể thiệt hại về sức khỏe do khói xe, do bực bội… Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ nói việc đơn giản hóa thủ tục hành chính giúp giảm được chi phí hành chính cả nước khoảng 30 ngàn tỷ đồng/năm. Chúng ta còn “bóc lột” thời gian của người khác đến bao giờ khi đã có nhận định rằng thủ tục hành chính tiếp tục là rào cản lớn đối với nhà đầu tư khi thâm nhập thị trường Việt Nam khi họ trung bình phải trải mất 44 ngày và trải qua 9 thủ tục để có giấy phép kinh doanh. Ở riêng hai chỉ tiêu này, Việt Nam bị xếp hạng lần lượt là 119 và 94.
Làm sao sử dụng ngân quỹ thời gian tốt nhất?
Một câu hỏi đơn giản là “Liệu việc đó có xứng đáng để tôi dành thời gian không?”. Theo Lama Surya Das thì: “Tự hỏi như thế sẽ giúp chúng ta chuyển đổi thời gian bị lãng phí thành thời gian được sử dụng một cách hữu ích. Tại sao chúng ta không tiết kiệm và đầu tư thời gian một cách cẩn thận như chúng ta đã làm đối với tiền bạc, vì thời gian có giá trị hơn và không thể thay thế được” (Sáu thủ thuật làm chủ thời gian theo lời Phật dạy - bản dịch Thích Minh Phú, NS. Giác Ngộ 188).
Trong chúng ta hầu như ai cũng đã lãng phí quỹ thời gian của mình vì đã ném mình hay vong thân theo những sự vụ bên ngoài quá nhiều mà không biết sống chánh niệm với thời gian. “Giờ nào việc đó”, phải gìn giữ vốn thời gian ít ỏi của đời người, đối diện với công việc một cách có ý thức, chủ động sống trọn vẹn mỗi phút giây hiện tại bây giờ và ở đây.
“Sử dụng các phương pháp tỉnh thức với giây phút hiện tại đã giúp tôi tỉnh giác và tìm thấy chính mình trong chuẩn mực thời gian của Đức Phật, hiện tại thiêng liêng, và sống trọn vẹn như thế mỗi ngày.”(Lama Surya Das, đã dẫn).
Ngày xuân, nhìn lại quỹ thời gian dần vơi đi, bạn còn gì mà phân vân. Hãy sống và làm việc với tất cả nhiệt tình, ta sẽ thấy niềm vui vì như ca từ trong một nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn: “Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ!”Nguyên Cẩn
Đọc thêm:
|
http://www.phoquang.org/modules.php?name=News&op=viewst&sid=2523
LỊCH SỬ VÀ VÀI NÉT KHÁI QUÁT LOGO VẺ ĐẸP PHẬT PHÁP( VĐPP)
Sống và lớn lên giữa vùng quê cát trắng, nắng lắm mưa nhiều, cái nghèo cái đói cứ đeo bám cả một làng quê An Bằng thời đó. Với khao khát vươn lên để hoàn thiện mình, ngày 15 tháng bảy năm 1997 Thầy đã lên chùa ….tìm cho mình một hướng đi, lý tưởng sống để tiếp tục hiến tặng cho cuộc đời những đóa hoa hiếu hạnh.
Và thời gian cứ thế trôi qua, thầy đã tu học nhiều nơi, lĩnh hội được nhiều giáo pháp của Đức Phật từ quý vị cao Tăng : Thiền Sư Nhất Hạnh, Hoà Thượng Thích Minh Châu và đặc biệt là vị Giáo thọ Thích Thái Hoà mà hiện nay Thầy đang làm phụ tá Thị giả.
Phật pháp đã thấm nhuần tâm, nhưng Thầy vẫn băn khoăn làm sao để truyền đạt Pháp của Phật đến giới trẻ, đến những Phật tử thiếu may mắn lớn lên trong chất thổ dưỡng cội nguồn tâm linh.
Với nhiều năm trăn trở, tìm vùng đất hứa để ươm hạt giống Phật. Trước đó Thầy cũng có nhiều chương trình hướng thiện cho Thanh thiếu niên, tuổi trẻ Phật giáo tại Huế, Lâm Đồng cùng với nhiều khóa tu hành thiền được Tăng thân huynh đệ tổ chức tại Phật học viện Pháp Vân, Tu Viện Bát Nhã, Tu Viện Từ Hiếu, Chùa Kim Sơn - Nha Trang v.v… Đặc biệt đầu năm 2009, năm 2010 Thầy đã tổ chức những chuyến du lịch Tâm Linh từ Sài Gòn đến Tu Viện Bát Nhã – Bảo Lộc, từ Sài Gòn ra Huế, Thành Phố Hồ Chí Minh về Cần Thơ. Với thời gian từ 1-2 ngày, một tuần cho tới mười ngày, nếu như có các ngày tu quán niệm, hành hương, lễ hội văn hóa Phật giáo thì ít nhiều Thầy đã thành công trên việc thiết lập quỹ đạo thời gian hoằng pháp đến với giới trẻ buổi ban đầu sơ tâm. Những Phật tử có tâm muốn tu học, tìm hiểu Phật pháp, các Chùa cổ Phật giáo thì Thầy luôn tạo điều kiện chuyên chở những bồ đề tâm đến với bước đầu học Phật. Trong đó nhiều giới Doanh nhân, Tài tử, Nghệ sĩ, xã hội như cụ Trần Văn Giàu, Nhà Nghiên Cứu Nguyễn Đắc Xuân, Tiến sĩ, P. Giáo sư Lê Cung, Doanh thương Trí Đức, Phạm Quang Định, Phạm Xuân Thệ, Hoàng Lược Hoa Sen, Phước Thịnh, Nguyễn Mạnh Hùng, Hoa Phượng, Huỳnh Hoàng Thu, Thanh Bạch, Kim Tiểu Long, Ngọc Hạ v.v... Từ đó những thao thức chớm nở để hôm nay Diễn Đàn Vẻ Đẹp Phật Pháp ra đời trong ánh nắng xuân chan hòa với rừng mai, hương sen tinh khiết. Tuy nhiên, lúc đó với nhân lực còn mỏng và còn nhiều khó khăn về phương tiện, trung tâm, chương trình nên việc đưa ra một biểu tượng riêng cho Vẻ Đẹp Phật Pháp là một điều đáng suy ngẫm. Trải qua bao nhiêu thăng trầm, khó nhọc cho một ý thức biểu hiện. Nay Thầy Pháp Bảo cùng với đồng sự của mình Thầy Pháp Mãn đã hoàn thiện được vai trò là người hướng dẫn cho mái ấm gia đình tâm linh góp phần tô điểm cho nền giáo dục cơ bản.
Ngày 10/10/2010 LOGO Vẻ Đẹp Phật Pháp chính thức ra đời trùng với sự kiện 1000 Năm Thăng Long - Hà Nội.
- Bàn tay Như Lai: chuyển tải Pháp của Phật đến mọi chúng sanh, ấn kiết tường của Chư Phật:
“Giờ phút linh thiêng
Gió lặng chim ngừng
Trái đất rung động bảy lần
Khi Bất Diệt đi ngang dòng Sinh Diệt
Bàn tay chuyển pháp
Trong hương đêm tinh khiết
Ấn cát tường nở trắng một bông hoa
Thế giới ba ngàn đồng thanh ca ngợi
Văn Phật Thích Ca
Giờ phút linh thiêng
Đóa Bất Diệt nở ngay giữa vườn hoa sinh diệt
Nụ Giác ngộ hé thành muôn thi thiết
Ngài về đây học tiếng nói loài người.
“
Tám yếu tố của Bát Chánh Đạo không phải là một tiến trình sắp xếp theo thứ tự nhất định, như là yếu tố này phải đứng trước yếu tố kia. Những yếu tố này có thể được diễn tả một cách trung lập, giống như một con sông lớn được hình thành từ những con suối nhỏ hợp lại và mỗi con suối nhỏ đều có tên và nhiệm vụ hoạt động riêng của chính nó. Nhờ sự tụ hợp góp sức của những con suối này mà con sông lớn mới tồn tại.
Trên phương diện tu tập thiết thực, tám yếu tố này được chia ra làm ba nhóm :
Nhóm giới đức, tiếng pali viết là silakkhandha, được tạo thành bởi chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng | Nhóm tâm định, tiếng pali viết là samadhikkhandha, được tạo thành bởi chánh tin tấn, chánh niệm và chánh định | Nhóm trí tuệ, tiếng pali viết là paññakkhandha, được tạo thành bởi chánh tri kiến và chánh tư duy.
Đường hướng chung của Bát Chánh Đạo qua ba nhóm Giới, Định, Huệ, là mục tiêu dẫn đến việc giải thoát ra khỏi sự khổ đau, bằng sự trừ tiệt vô minh”.
- Bánh xe Bát Chánh Đạo: Là con đường chân chánh, dẫn đưa chúng sanh đến chỗ giác ngộ, và được giải thoát. Bát Chánh Đạo gồm có tám điều chân chánh đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
1.- CHÁNH kiến: Chánh kiến là kiến thức chân chánh. Nghĩa là con người cần có sự hiểu biết và sự nhận thức sáng suốt và hợp lý. Chánh kiến có ích lợi giúp con người không sống trong mê lầm, điên đảo. Người có chánh kiến, thấy như thế nào, thì nhận đúng như thế ấy, không thay đổi trắng đen, không kỳ thị xấu tốt, không phê phán hay dở. Chánh kiến là sự hiểu biết và nhận thức không bị tập quán, thành kiến, dục vọng hay tâm phân biệt, ngăn che và làm sai lạc. Người có chánh kiến, hiểu biết tường tận, thế nào là chánh tà, chơn ngụy, đại tiểu, thiên viên, nhưng luôn luôn sống với tâm bình thường, tâm chính trực và tâm bất tùy phân biệt.
2.- CHÁNH tư duy: Chánh tư duy là sự suy nghĩ chân chánh. Nghĩa là con người cần phải nghiệm xét, nghĩ suy, quán chiếu một cách đúng đắn, hợp với chân lý, không trái với lẽ phải, có lợi cho mình và cho người. Chúng ta thường xuyên suy nghĩ đến "Giới, Định, Tuệ" để tu tập giải thoát, suy nghĩ nguyên nhân gây đau khổ cho chúng sanh, để giải thích và khuyến tu, suy nghĩ những hành vi lỗi lầm, những lời nói sai trái và những tâm niệm xấu xa của chính mình để sám hối và cải đổi. Tất cả những điều đó gọi là chánh tư duy.
3.- CHÁNH ngữ: Chánh ngữ là lời nói chân chánh. Nghĩa là con người nên nói lời thật thà lương thiện, công bình ngay thẳng, công minh chính trực, có ích lợi chánh đáng. Chánh ngữ là lời nói thành thật và sáng suốt; lời nói ngay thẳng hợp lý, hòa nhã, rõ ràng và giản dị; lời nói ích lợi, dung hòa, khuyến tấn và duy nhất. Chánh ngữ là lời nói hợp Chánh Pháp, có ích lợi, đem lại hòa bình, yên vui cho mọi người mọi nơi. Người giữ gìn chánh ngữ là người dè dặt khẩu nghiệp, cẩn trọng lời nói, không bao giờ nói sai sự thực, không thiên vị, không xuyên tạc, không vu oan giá họa, không hăm he hù dọa.
4.- CHÁNH nghiệp: Chánh nghiệp là nghề nghiệp và hành động chân chánh. Nghĩa là con người nên chọn nghề nghiệp chân chánh, hành động một cách ngay thật, có ích lợi chánh đáng cho mình và cho người. Chánh nghiệp có ích lợi giúp con người mang lại bình an, hạnh phúc cho chính mình và cho mọi người xung quanh.
5.- CHÁNH mạng: Chánh mạng là mạng sống chân chánh. Nghĩa là con người cần sinh sống một cách chánh đáng, có đời sống lương thiện, ngay thật, trong sạch, không bạo tàn, không hèn mạt. Chánh mạng có ích lợi giúp con người có cuộc sống bình đẳng, tương kính, không bị khinh rẻ. Người giữ gìn chánh mạng là người sống một cuộc đời có ý nghĩa, lợi mình, lợi người, không ăn bám ai, cũng chẳng ăn không ngồi rồi. Người theo đúng chánh mạng là người sinh sống theo lẽ phải, biết tôn trọng quyền sống và hạnh phúc của mọi người, tôn trọng nghề nghiệp, không xâm phạm tài sản, tận lực làm việc, không tổn hại mọi người và muôn vật, sinh sống với tài năng chân chánh, không giả dối lừa gạt mọi người, sinh sống thanh cao không luồn cúi, không thượng đội hạ đạp, sinh sống theo chánh giáo, không mê tín dị đoan.
6.- CHÁNH tinh tấn: Chánh tinh tấn là sự siêng năng chân chánh. Nghĩa là con người siêng năng làm những việc có ích lợi cho mình và cho người. Chánh tinh tấn có ích lợi giúp con người cải tạo thân tâm ngày một thanh tịnh, tốt đẹp hơn, cuộc đời có ý nghĩa hơn. Người theo đúng chánh tinh tấn bao giờ cũng phản quan tự kỷ, quay lại xét mình, siêng năng chuyển hóa tâm trí, cải đổi tánh tình.
7.- CHÁNH niệm: Chánh niệm là sự nhớ nghĩ chân chánh. Nghĩa là con người có những ý niệm chánh đáng, những đạo lý giác ngộ và giải thoát. Chánh niệm có ích lợi giúp con người sống trong an ổn, yên vui, không tạp niệm, ngày ăn ngon, tối ngủ yên. Người giữ gìn chánh niệm là người dè dặt với ý nghiệp, luôn luôn nhớ nghĩ tứ trọng ân: ân cha mẹ, ân thầy tổ, ân đất nước, ân mọi người, nhớ nghĩ lỗi lầm để sửa đổi. Người giữ gìn chánh niệm là người sống trong cảnh giới an lạc và hạnh phúc.
8.- CHÁNH định: Chánh định là sự thiền định chân chánh. Nghĩa là con người tập trung tư tưởng vào một vấn đề chánh đáng, đúng với chân lý, hợp với lẽ phải. Người đạt được chánh định là người bình tĩnh, thản nhiên trước bát phong của cuộc đời. Chánh định có ích lợi giúp con người phát triển trí tuệ, mau tiến đến giác ngộ và giải thoát. Tâm trí của con người thường xuyên lăng xăng lộn xộn, nhớ nghĩ lung tung, linh tinh lang tang, không có dừng nghỉ, từ đông sang tây, từ cổ chí kim, từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, từ thế giới năm châu đến phụ nữ nhi đồng, từ quốc gia đại sự đến hang cùng ngõ hẹp, hết chuyện gia đình đến chuyện hàng xóm, chuyện xưa chuyện nay, thương ghét tốt xấu, thị phi phải quấy. Tất cả những chuyện như vậy làm cho tâm của chúng ta luôn luôn loạn động. Tâm loạn động thì trí bất an. Ngày ăn không ngon, tối ngủ chẳng yên.
- Lá cờ Phật Giáo: Là biểu trưng tinh thần thống nhất của Phật tử trên toàn thế giới, niềm chánh tín và sự yêu chuộng hoà bình của mọi người con Phật. Bao gồm năm màu và màu tổng hợp:
1. Xanh đậm: tượng trưng cho Định căn. Màu xanh tượng trưng cho sự rộng lớn và sáng suốt.
2. Màu vàng: tượng trưng cho Niệm căn.Vì có chánh niệm mới sanh định và phát Tuệ.
3. Màu đỏ: tượng trưng cho Tinh Tấn căn. Có Tinh Tấn mới khắc phục được mọi trở ngại, nghịch cảnh.
4. Màu trắng: tượng trưng cho Tín căn, niềm tin không lay chuyển. Có Tín căn là có nhân duyên với chư Phật, và là nguồn gốc sanh ra muôn hạnh lành.
5. Màu cam: Tượng trưng cho Tuệ Căn. Khi có Tín, Tấn, Niệm, Định đầy đủ thì tuệ sẽ phát sanh.
6. Màu tổng hợp: tượng trưng cho tinh thần hoà bình và đoàn kết của Phật giáo trên thế giới.
- Cánh Sen Hồng:
1. Không nhiễm: Hoa sen dù mọc lên từ bùn nhơ, nhưng tính chất của nó vẫn không mang mùi hôi của bùn.
Bùn là tượng trưng cho phiền não nhiễm ô, còn hoa sen là tiêu biểu cho thanh tịnh. Điều nầy, để nói lên cái ý nghĩa thâm trầm là chư Phật Bồ tát ra đời, các Ngài vẫn sinh hoạt trong dòng đời, nhưng các Ngài không bao giờ bị cấu nhiễm. Cư trần bất nhiễm trần là thế. Ngược lại, chúng ta thì có khác. Chúng ta đụng đâu nhiễm đó. Mặc dù trong mỗi người chúng ta đều sẵn có hoa sen bất cấu nhiễm nầy. Hoa sen là để tiêu biểu ẩn dụ cho mỗi người chúng ta ai ai cũng sẵn có Phật tánh. Mà Phật tánh vốn không cấu nhiễm, vì bản chất của nó thanh tịnh sáng suốt. Nhưng vì chúng ta theo dòng vô minh vọng nghiệp mà tạo ra nhiều tội lỗi để rồi bị dính mắc trong trần lao ô nhiễm.
2. Trừng thanh: là lóng trong. Điểm đặc biệt là chỗ nào có hoa sen mọc, thì chỗ đó nước không bao giờ đục. Do đó, khi chúng ta hái hoa sen, thì khỏi cần phải rửa, bởi hoa sen không dính bùn nhơ. Bởi vì bản chất của nó mang sẵn tính trừng thanh. Điều nầy để nói lên cái ý nghĩa biểu trưng rằng, nơi nào có chư Phật, Bồ tát ra đời, thì nơi đó sẽ đem lại cho chúng sanh có sự an ổn mát dịu. Ngược lại, nơi nào có những phần tử xấu ác bất lương, thì nơi đó chắc chắn là sẽ xảy ra lắm điều phiền phức họa hại bất an.
3. Kiên nhẫn: Như chúng ta đã biết, hoa sen là loại túc căn thảo, tức một loại có nẩy mầm từ rễ củ của năm trước. Hoa sen mang đặc tính kiên nhẫn rất là kỳ thú. Rễ củ của nó nằm trong bùn thật lâu để chờ đợi khi hội tụ đầy đủ nhân duyên là nó sẽ nẩy mầm ngay. Sự chờ đợi đó, tức là đức tánh kiên nhẫn. Đức tánh nầy, rất cần thiết trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Người nào có đức tánh kiên nhẫn nầy, thì người đó khi ra làm việc gì chắc chắn sẽ dễ đạt được thành công. Bằng ngược lại, thì khó mong đạt được.
4. Viên dung: Vì hoa sen có những cánh hoa bao bọc gương sen tròn trịa. Đây là tiêu biểu cho tánh viên giác của mỗi chúng sanh sẵn có. Tánh viên giác vượt ngoài phạm trù nhân duyên đối đãi. Hoa sen từ lúc nở cho đến lúc tàn, không bị loài ong bướm làm hư hoại, khác với các loài hoa khác bị ong bướm tìm đến bu đậu và hút lấy nhụy. Điều nầy, nói lên tánh viên giác tròn sáng vô ngại, không bị cảnh nào có thể làm tiêu hoại ô nhiễm nó được.
5. Thanh lương: Khác hơn các loài hoa khác, hoa sen lại nở vào mùa Hạ, đây là mùa nóng bức. Điều nầy, để nói lên ý nghĩa chư Phật Bồ tát ra đời trong cõi đời ngũ trược, chúng sanh dẩy đầy phiền não, bức bách khó chịu, các Ngài mang lại nước cam lồ từ bi để tưới tẩm làm mát dịu cho mọi người.
6. Hành trực: : Hành trực là chỉ cho thân ngay thẳng.
7. Ngẩu không: Hoa sen tuy thân ngay thẳng, nhưng trong ruột thì trống rỗng. Điểm đặc biệt nầy để nói lên một ý nghĩa rất thâm trầm là người tu hành cần phải có tánh hỷ xả. Hai đức tánh nầy Bồ tát luôn thực hiện. Nói đến hạnh hỷ xả, chúng ta liền nghĩ ngay đến Bồ tát Di Lặc.
Đức Di Lặc ngồi trơ bụng đá
Bao bụi trần bám đã rồi rơi
Mặc cho thế cuộc đầy vơi
Dửng dưng như một nụ cười an nhiên.
8. Bồng thực: Các loài hoa khác, khi bông tàn mới kết nụ thành trái và có hột. Ngược lại, hoa sen thì không như thế. Hoa sen nở ra thì đã có gương có hột sẵn rồi. Đó là nhân quả đồng thời. Điều nầy, nói lên một triết lý sống; nhân quả không bao giờ sai khác. Nhân quả như hình với bóng, hình thế nào, thì bóng như thế đó.
Thế nên, muốn cho đời sống được an ổn tươi mát thơm tho như hoa sen, thì chúng ta nên nhớ đến lý nhân quả mà hành xử tu nhân tích đức, làm lợi ích cho mình và người, thì chắc chắn chúng ta sẽ có hạnh phúc an lạc ngay trong đời sống hiện thực, không cần phải tốn công hao sức tìm nơi đâu xa xôi. Niết bàn hay đau khổ, rốt lại ở nơi tâm chúng ta mà thôi.
- Cánh chim hoà Bình: Là loài chim có khả năng hiểu biết về tâm tính, sống chung hòa điệu với muôn thú. Loài chim này còn mang một thông điệp hòa bình, giá trị đạo đức và nhân văn đến với con người ; còn gọi nó như một sự biểu hiện “ Đất lành chim đậu”.
- Trái đất luôn được tươi xanh: Với hiện tại như chúng ta đang thấy và diễn ra hàng ngày trên hành tinh xanh. Những sinh hoạt, những khai thác, những chất thải, những thiên tai, những cao ốc, những ô nhiễm. Là tiếng chuông tĩnh giác con người đang xâm phạm đến thiên nhiên, làm thân đất rỉ máu, nguồn nước cạn kiệt, sức nóng lan tỏa, bách thú diệt chủng v.v… Với ý nghĩa cao thượng “ trái đất xanh là con người mới sống”. Chúng ta cùng chung bàn tay nâng đỡ, bảo vệ hay xoa diệu lại trái đất mỗi ngày như chúng ta đang thương yêu lấy mình .
- Vòng tròn viên dung: Giáo pháp của Đức Phật luôn đúng với mọi thời đại, không một thế lực nào có thể làm nhiễm, thất truyền và tiêu diệt. Nhằm tạo tình liên đới hữu nghị như mái nhà chung giữa lòng nhân sinh toàn cầu.
"Viên dung" hàm ý tất cả đức tánh của tâm Chân như, như đại trí, đại bi, đạo hạnh (giới), thệ nguyện rộng lớn, năng lực thần thông, không mục đích, không mong cầu, phương tiện thiện xảo phát sinh từ trí tuệ siêu việt. "Vô ngại" hàm ý giải thoát khỏi mọi trói buộc của chấp trước và nghiệp chướng. Trên phương diện bản thể học, thời Viên dung là nhân, Vô ngại là quả. Nhưng đối với hành giả, Vô ngại là nhân, Viên dung là quả, nghĩa là phải lìa bỏ chấp trước và dứt đoạn nghiệp chướng thời mới chứng đắc Phật quả.
Với những phân tích sơ bộ về LOGO của Vẻ Đẹp Phật Pháp, Diễn Đàn Vẻ Đẹp Phật Pháp muốn truyền tải Pháp lý của Đức Phật đến mọi chúng sanh trên toàn thế giới, mang niềm vui, hạnh phúc và sự an lạc đến cho mọi chúng sanh, giúp chúng sanh bớt đau khổ, làm cho cuộc sống giữa con người và mọi loài ngày càng tốt đẹp hơn. Để Phật Pháp đến với chúng sanh ngày càng nhiều, càng rộng và thuận lợi.
Bên cạnh được sự tin cậy và yểm trợ của Hoà Thượng Thích Thái Hoà, Chư tôn đức. Ban Thị Giả Cổ Pháp đã tạo lập một trang website Thư Viện Cổ Pháp, mà ở đó chuyển tải cuộc đời và sự nghiệp của các bậc cao Tăng và là nơi hội tụ giáo Pháp của Đức Phật. Ý nghĩ đó được thể hiện ngay ở LOGO của Thư Viện Cổ Pháp, cũng giống như LOGO Vẻ Đẹp có biểu tượng đoá Hoa Sen, lá cờ Phật giáo, bánh xe Bát Chánh Đạo, vòng tròn Viên Dung, và đặc biệt hơn là biểu tượng Chùa Một Cột. Theo truyền thuyết chùa Một Cột hình thành từ một giấc mộng của vua Lý Thái Tông. Vào một đêm mùa xuân năm Kỷ Sửu (1049), vua nằm mộng thấy Phật Quan Âm ngồi trên đài hoa sen, dẫn vua lên đài. Khi tỉnh dậy, vua nói chuyện lại với triều thần, có người cho là điềm xấu, nhưng thiền sư Thiền Tuệ thì khuyên vua nên xây chùa, dựng cột đá giữa hồ, xây đài hoa sen có tượng Phật Quan Âm ở trên, đúng như hình ảnh đã thấy trong mộng. Các nhà sư chạy đàn xung quanh, tụng kinh cầu cho Vua sống lâu và đặt tên là chùa Diên Hựu.
Chùa Một Cột là một ước vọng đầy tính triết học, có văn hoá, tôn giáo to lớn, cầu mong đức Phật với trí tuệ viên mãn (bông sen nghìn cánh) hãy ban cho thế gian nguồn sinh khí tràn đầy (tòa nhà đỏ sẫm), truyền qua đất và nước để mọi chúng sinh trong cõi ta bà này được hưởng hạnh phúc. Cộng với nét đặc thù văn hóa hóa của dân tộc Việt Nam, từ thuở Làng Cổ Pháp về tới đất Thăng Long.
Từ đó ánh sáng Tuệ Quang Thường Chiếu luôn soi chiếu trong ba cõi, thấm nhuần trong mười phương, người người điều hưởng phúc lành, an lạc hạnh.
Tóm Lại:
Với khả năng kiến thiết và tính thể nhập của một tổ chức thu nhỏ trước tiên là nói lên được tinh thần hài hòa vị tha. Xây dựng một hướng đi trong lòng cuộc đời như rác và hoa không thể thiếu đi một thứ cũng như tình thương và trí tuệ vậy. Chính vì thế Vẻ Đẹp luôn là nét tiềm ẩn mầu nhiệm trong Phật Pháp. Con đường hướng thượng, ước mơ, nụ cười, bảo vệ hành tinh là những thước đo mà tâm hồn con người cần phải nâng niu sự sống và có mặt chân thành với những suy nghĩ thanh cao. Đó là mang thông điệp hòa bình, yêu thương, bao dung vào với mọi loài sống cùng, mà ở nơi đó đang thực tập về sự giác ngộ, về tuệ giác, chuyển vận bánh xe ở mọi thời gian và không gian.
…từ trời Ðâu Suất nhìn về
chư thiên thấy địa cầu quê hương tôi sáng hơn vì sao sáng
và tinh tú muôn phương chầu về
cho đến khi vừng đông tỏa rạng
cho đến khi vườn Lâm Tì Ni biến thành chiếc nôi êm chào đón Phật sơ sinh
nhưng đêm nay
từ địa cầu quê hương tôi
loài người mắt lệ rưng rưng
hướng cả về mây từng trời Ðâu Suất
tiếng kêu khóc của sinh linh ngã gục
dưới bàn tay ma vương
dưới bàn tay bạo lực căm thù
trong bóng đêm
địa cầu quê hương tôi đã mòn mỏi trông chờ
giờ mầu nhiệm để Vô biên hé mở
cho bóng tối tan đi với niềm lo sợ
cho hội Long Hoa về
để pháp âm tiếp nối bằng lời ca tiếng hát em thơ
đêm nay xin mười phương trăng sao chứng minh
cho địa cầu quê hương tôi dâng lời cầu nguyện
cho Việt nam khói lửa
cho Việt Nam điêu linh
cho Việt Nam quằn quại đắm chìm trong máu lệ
sớm vùng dậy trong đau thương thế kỷ
để biến thành chiếc nôi êm đón chào Từ Thị
thêm một lần hoa nở Phật sơ sinh
đêm nay cầu cho khổ đau trái kết hoa thành
cho sinh diệt đi ngang dòng pháp thân bất diệt
cho suối tình thương chảy tràn trên vạn lòng tha thiết
để loài người học tiếng nói chân như
để tiếng nói trẻ thơ thành giọng chim ca.
(Đêm Cầu Nguyện)
Cẩn bút về lời giới thiệu : Ban Hướng Dẫn Vẻ Đẹp Phật Pháp
Nghiên cứu thêm từ nguồn : http://www.vedepphatphap.com/2010/10/khi-ta-gap-phat_03.html
Là nhà toán học tổi tiếng thế giới với công trình chứng minh Bổ đề cơ bản Langlands, GS. Ngô Bảo Châu là người Việt Nam đầu tiên giành được Huy chương Fields, giải thưởng toán học cao quý nhất ghế giới, đưa Việt Nam trở thành quốc gia châu Á thứ hai sau Nhật có nhà toán học đoạt giải Fields. Với công trình đặc biệt vốn được Tạp chí Times liệt vào vị trí thứ 7 trong số 10 sự kiện khoa học nổi bật trên thế giới năm 2009, GS. Ngô Bảo Châu đã làm rạng danh người Việt trên khắp thế giới. Nhân chuyến về thăm Việt Nam vào tháng 7-2011, GS đã dành cho ĐPNN những chia sẽ sau đây:
ĐPNN: Sau khi được bổ nhiệm là giám đốc khoa học của Viện nghiên cứu cao cấp về Toán từ ngày 9-3-2011, được biết đây là mùa hè đầu tiên, GS làm việc tại Việt Nam. Với cương vị này, trách nhiệm và chiến lược của GS trong việc phát triển toán học tại nước nhà ra sao? Những khó khăn nếu có?
NBC: Chào thầy Thích Nhật Từ. Vâng thưa thầy, hè năm nay Viện nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM) đã có những hoạt động khoa học đầu tiên. Bên cạnh việc cùng nhau tìm hiểu một số vấn đề toán học ít được nghiên cứu ở Việt Nam, chúng tôi cố gắng tạo ra một nếp làm việc cho những hoạt động khoa học khác của VIASM sau này. Tất nhiên là vạn sự khởi đầu nan, nhưng tôi rất hy vọng VIASM sẽ là một nguồn sức sống mới cho toán học Việt Nam.
ĐPNN: GS có phải là Phật tử? Việc tìm hiểu về đạo Phật của GS thế nào?
NBC: Gia đình tôi theo Phật nhưng tôi không phải là phật tử theo nghĩa toàn vẹn nhất, mặc dù có lẽ văn hóa Phật giáo có thấm sâu vào con người tôi như nhiều người Việt nam khác.
ĐPNN: Đạo Phật đã ảnh hưởng thế nào đối với cuộc sống của GS?
NBC: Có lẽ đó là sự nhận thức sâu sắc về giá trị của cuộc sống của con người cũng như của mọi sinh linh từ đó dẫn đến sự trân trọng cuộc sống của người khác và của chính mình.
Có lẽ đó còn là một thái độ tương đối bình thản trước mọi biến cố của cuộc sống. Thường thì người ta đạt được sự bình thản này sau khi một phần lớn của đời mình đã trôi qua, văn hóa Phật giáo có thể giúp ta bình thản ngay cả khi một phần lớn của cuộc đời có lẽ còn ở phía trước.
Có lẽ sự nhận thức về tính vô thường của thế giới và của cả con người đã giúp tôi rất nhiều để có một sự cân bằng trong cuộc sống. Một bên ta không thể buông xuôi trách nhiệm với xã hội, với những người thân thiết, với bản thân mình, một bên ta vẫn hiểu rằng cái quan trọng ngày hôm nay, ngày mai có thể sẽ không còn quan trọng nữa.
ĐPNN: Giáo sư đã từng đọc kinh Phật? Nếu có thì đó là kinh gì? Ảnh hưởng của bài kinh đó đối với cuộc sống của giáo sư thế nào?
NBC: Tôi được đọc kinh phật mỗi lần đến thăm bà ngoại tôi. Ngoại tôi tụng kinh hàng ngày. Khi còn là sinh viên tôi có đọc một số sách về lịch sử Phật giáo.
Trải nghiệm quan trọng nhất của tôi với Phật giáo là lần đi thăm di tích Ajanta bên Ấn độ. Đó là những hang đá nơi những người tu hành đã sống từ thế kỷ thứ sáu. Những bức bích họa rất lớn trên vách hang miêu tả cuộc đời của Thích Ca Mầu Ni đã làm tôi xúc động đến ứa nước mắt.
ĐPNN: Là một nhà khoa học toán, giáo sư đánh giá thế nào về các điều minh triết Phật dạy về con người và vũ trụ?
NBC: Triết lý Phật giáo cho con người một nhân sinh quan rộng rãi, giải phóng nhiều định kiến. Đấy là một tố chất cơ bản của nhà khoa học.
Có những nhà khoa học có uy tín đi tìm những điểm chung giữa triết lý tôn giáo trong đó có Phật giáo và Cơ đốc giáo và khoa học hiện đại. Cá nhân tôi thấy những cố gắng này có phần khiên cưỡng.
ĐPNN: Khi tự đặt cho mình biệt hiệu “Hòa thượng Thích Học Toán” hẳn giáo sư đã thể hiện phần nào thiện cảm với Phật giáo, cụ thể hơn là tu sĩ Phật giáo? Ý tưởng của việc chơi chữ này là gì?
NBC: Công việc nghiên cứu khoa học có nhiều điểm chung với cuộc sống của những nhà tu hành. Nghiên cứu khoa học cơ bản cũng có tính thoát ly khỏi cuộc sống trần tục. Tôi chọn biệt danh “Hòa thượng Thích Học Toán” để cho trò chuyện toán học trên blog được thân thiện hơn, để câu chuyện toán học thoát ra khỏi hình thức phổ biến khoa học. Sau khi một số Phật tử có nhắn với tôi không nên đùa với chức danh Hòa thượng, tôi cũng không dùng nó nữa. Tôi cũng không có ý tạo thêm những sự bực bội không cần thiết.
ĐPNN: Gần đây, Giáo sư đặt trang blog cá nhân (thichhoctoan.wordpress.com) ở chế độ riêng tư, một hình thức của đóng cửa đối với độc giả quý mến giáo sư? Đâu là lý do cho việc này?
NBC: Sau sự kiện giải thưởng Fields, blog của tôi có khá nhiều người đọc. Tôi nhận ra rằng cách viết hài hước mà tôi chọn cho blog cũ nay không còn phù hợp nữa. Tôi vẫn giữ ý định mở lại một trang blog mới và viết lại nhiều bài theo một phong cách nghiêm túc và có hệ thống hơn.
ĐPNN: Là người sống và làm việc tại Pháp, trung tâm của văn minh châu Âu và hiện nay giảng dạy tại đại học Chicago, Hoa Kỳ, giáo sư có suy nghĩ gì về mô hình giáo dục đại học Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa?
NBC: Có một khoảng cách khá lớn về chất lượng giữa giáo dục đại học ở Việt Nam và ở các nước phát triển. Vì dư luận xã hội đã quá tiêu cực với chất lượng giáo dục cho nên tôi thấy không cần phân tích thêm. Cái cần và khó hơn nhiều là tìm ra giải pháp. Có lẽ giải pháp tốt nhất là để cho mỗi ngôi trường, mỗi người thầy tìm ra giải pháp riêng cho mình. Nói cách khác là trường đại học và các giáo sư đại học cần được chủ động hơn trong chương trình và qui chế tuyển sinh. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cần làm thêm nhiều điều tra để so sách chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học giữa các trường để dựa vào đó mà có chính sách đầu tư hỗ trợ. Những thông tin này cũng cần được công bố rộng rãi để học sinh sinh viên cũng như phụ huynh có thông tin chính xác hơn cho việc chọn trường học. Việc nới quản lý từ trung ương để tăng tính chủ động cho những người trực tiếp làm công việc đào tạo và nghien cứu có thể dẫn đến bất cập ở chỗ này chỗ khác, nhưng tôi tin vào khả năng tự điều chỉnh của cuộc sống. Sự tự điều chỉnh sẽ nhanh hơn nếu thông tin được rộng đường.
ĐPNN: Toán học có thể giúp gì cho việc quy hoạch đô thị Việt Nam? Kinh nghiệm của Pháp và Mỹ trong lãnh vực này thế nào?
NBC: Ở nước ta, việc quy hoạch giao thông trong các đô thị vẫn dựa nhiều vào cảm tính, nên hay thay đổi. Những hệ thống có độ phức tạp cao như giao thông đô thị thực ra rất cần được thử nghiệm và thiết kế dựa trên những mô hình toán học.
ĐPNN: Là người lập gia đình và có con ở tuổi đôi mươi, đâu là bí quyết duy trì “hạnh phúc gia đình” của giáo sư sau gần 20 năm chung sống?
NBC: Thưa thầy, cuộc sống gia đình nào cũng có lúc sóng gió. Để sống với nhau, mỗi người cần hiểu những người mình yêu để mà sống vui với chính con người họ. Mỗi gia đình còn có một động lực rất lớn để tồn tại đó là con cái và việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái.
ĐPNN: Tháng bảy trong Phật giáo là mùa báo hiếu công ân sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ như hai vị Phật trong nhà, Gs có thể chia sẻ vài kỷ niệm đẹp mà hai đấng sinh thành đã giành cho Gs thời trẻ?
NBC: Cha mẹ tôi luôn dành hết cho tôi mọi sự yêu thương, ưu tiên việc nuôi dưỡng giáo tục tôi hơn tất cả. Vợ chồng tôi cũng cố gắng làm như vậy với các con, nhưng chắc chắn là không thể được như ông bà.
Khi còn nhỏ, mẹ tôi dậy tôi rằng xấu nhất là nói dối. Bây giờ tôi vẫn tin và cũng dậy các con tôi như thế.
ĐPNN: Với vai trò làm cha của ba đứa con hiếu thảo và thành công, xin GS chia sẻ kinh nghiệm làm cha của mình?
NBC: Tôi không nghĩ các con tôi đặc biệt thành công hoặc là mình là một người bố kiểu mẫu để có thể tự tin chia sẻ kinh nghiệm với người khác. Công việc bận rộn không cho tôi có nhiều thời gian để gần gũi với con cái như tôi mong muốn mà thời gian là cái mà trẻ nhỏ cần nhất ở cha mẹ. Có lẽ người lớn nên bớt thời gian xem TV, lướt web, tụ tập bạn bè để có thêm thời gian chơi với con, học với con, cùng đọc sách với con. Những cái đó có ích cho trẻ hơn là việc bỏ tiền ra cho con đi học thêm hay những khóa rèn luyện “kỹ năng sống”.
ĐPNN: Theo GS, hạnh phúc là gì? Và đâu là cách thức giáo sư giữ gìn và phát triển hạnh phúc có được?
NBC: Đối với tôi, cái hạnh phúc lớn nhất là cảm giác mình đang sống. Cảm giác đó bao gồm cả vị ngọt và vị đắng. Nó xuất phát quan hệ với những người thân thiết, bạn bè, công việc và xã hội, từ miếng cơm ta ăn, từ miếng nước ta uống, từ không khí ta đang thở.
Để có hạnh phúc, có lẽ không có cách nào khác là yêu cuộc sống như chính nó. Để bất hạnh, có lẽ không có cách nào tốt hơn là đi đuổi theo những ảo ảnh.
ĐPNN: Theo GS, “để sống một cuộc sống có ý nghĩa,” người ta phải làm gì?
NBC: Tôi e mình không đủ thông tuệ để trả lời câu hỏi này của thầy một cách đầy đủ. Phần nhỏ của câu trả lời mà tôi biết là để sống một cuộc sống có ý nghĩa, ta nên tránh làm những việc vô nghĩa.
Thích Nhật Từ ( thực hiện)
http://www.daophatngaynay.com/vn/
THẢNH THƠI TRONG BƯỚC CHÂN VỀ
(Pháp Thoại Thầy Thái Hòa Giảng Ngày 17/4/Tân Mão – 19/5/2011), Cho Hương Linh Nguyễn Thị Vỹ, Pháp danh Nguyên Khai, Tại Làng An Bằng, Vinh An, Phú Vang, TT Huế) .
Tiếp Xúc Trong Thiền tập:
Xin tất cả quý vị trong tang quyến, cũng như toàn thể quý vị có mặt để hộ niệm cho buổi lễ này, xin tất cả quý vị đưa hai bàn tay của mình chạm vào trái tim, tập trung tâm ý theo dõi hơi thở, khi nghe tôi thỉnh tiếng chuông.
“Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe
Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm”.(C)
Thở vào, thở ra, tôi ý thức rất rõ là tôi đang thở vào và thở ra . Thở vào và thở ra tôi ý thức rất rõ trong trái tim tôi giờ này, đang có mặt của tổ tiên, ông bà nội ngoại của chúng tôi, đang có mặt của cha mẹ chúng tôi, đang có mặt của anh em chúng tôi và của tất cả mọi người và mọi loài. Trái tim đang hiện hữu nơi tôi là thành quả của quá khứ và tác nhân của thế hệ con cháu ở trong tương lai của chúng tôi.
Dù cha mẹ của chúng tôi đã qua đời hay còn tại thế, thì vẫn luôn luôn có mặt ở trong trái tim chúng tôi trong từng hơi thở vào và ra.
Chúng tôi thực tập hơi thở có ý thức đối với tổ tiên, ông bà nội ngoại thì tức khắc, ông bà tổ tiên, ông bà nội ngoại sẽ có mặt ngay trong giờ phút này.
Thực tập với hơi thở có ý thức đối với cha mẹ chúng tôi thì tức khắc dù cha mẹ đã qua đời hay còn tại thế vẫn có mặt trong giờ phút này ở trong trái tim tôi.
Và chúng tôi thở với ý thức tỉnh giác thì anh chị em của chúng tôi dù đang có mặt hay đang hiện hữu ở phương trời nào, thì cũng đều đang có mặt ở trong trái tim tôi trong giờ phút này.
Thở và ý thức tỉnh giác tôi biết trong trái tim tôi sẽ mở ra những hoa trái giác ngộ cho mỗi chúng tôi, cho tổ tiên của chúng tôi trong quá khứ và cho những thế hệ con cháu của chúng tôi trong tương lai.
Xin tất cả quý vị bỏ tay xuống , ngồi trong tư thế thoải mái hướng về Tam Bảo, hướng về thân linh của mình để nghe pháp thoại.
Hai Hạt Minh Châu Cho Người Sống:
Cùng tất cả quý vị thân mến .
Sống chưa hẳn là hạnh phúc hay may mắn, thì chết chưa phải là rủi ro hay bất hạnh.
Nếu ta sống mà trong đời sống của mỗi chúng ta, thiếu đi chất liệu của Hiếu và Kính, thì chúng ta sẽ trở thành con người bất hạnh ở trong gia đình, chúng ta sẽ trở thành người con, người cháu bất hạnh ở trong dòng họ của chúng ta và chúng ta sẽ trở thành con người vĩnh viễn bất hạnh ở thế giới loài người.
Cho nên ở nơi gia đình nào, ở nơi xã hội nào mà con người sống thiếu hai chất liệu Hiếu và Kính thì ở nơi gia đình đó, ở nơi xã hội đó có sự bất hạnh, có sự khổ đau và có sự đi xuống nơi cảnh giới thấp kém.
Thiếu chất liệu Hiếu và Kính là sống rủi ro, là sống bất hạnh, càng sống thì càng rủi ro, càng sống thì càng bất hạnh, càng sống thì càng đau khổ, càng sống thì càng thất vọng và một ngày đi qua đời ta là một ngày đẩy ta đi tới với thế giới địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh.
Thế giới địa ngục là thế giới dành cho con người thiếu chất liệu Hiếu và Kính, ở thế giới đó người ta muốn gọi tiếng Cha ơi cũng không được, muốn gọi lên tiếng Mẹ ơi cũng không được. Sống mà mất hết chất liệu Hiếu và Kính, thì sẽ sa vào cảnh giới của ngạ quỷ.
Cảnh giới đó là cảnh giới đói nghèo và trong cảnh giới đói nghèo đó là đói nghèo về tình cảm, đói nghèo về đức tin, đói nghèo tình cảm quý báu nhất đó là tình cảm Cha và Mẹ. Cho nên ai mà trong đời sống của họ thiếu đi chất liệu Hiếu và Kính, người đó sẽ vĩnh viễn đói nghèo, đói nghèo tình cảm và đói nghèo đời sống tinh thần. Tuy thân họ sống trong cung điện, nhưng đó là trá hình của loài ngạ quỷ đói nghèo.
Ở trong đời, ai mà sống thiếu chất liệu Hiếu và Kính, thì trước sau gì, họ cũng rơi vào thế giới của loài súc sinh, đó là cảnh giới mà không biết cha mình ở đâu, mẹ mình ở đâu, không biết quê hương xứ sở của mình ở đâu. Dù ở bên mẹ mà vẫn dày xéo mẹ, làm cho mẹ mình khổ đau, thì đó là cảnh giới của loài súc sinh.
Cho nên, ở trên đời, cái rủi ro lớn nhất của con người, cái bất hạnh lớn nhất của con người là rơi đi hai hạt minh châu Hiếu và Kính ở trong tâm hồn của mình, ở trong đời sống của mình, sống mà mất đi hai hạt minh châu Hiếu và Kính thì đó là một đời sống rủi ro và bất hạnh. Chết mà trong tâm hồn khô kiệt hai chất liệu Hiếu và Kính đó là một cái chết rủi ro, một cái chết bất hạnh, vì cái chết đó là cái chết lầm lũi đi vào cảnh giới của địa ngục, thế giới của nga quỷ, thế giới của súc sinh và chịu muôn vàn khổ đau, nên chết như vậy là chết khổ đau và bất hạnh.
Ở trong đời người nào có đủ hai chất liệu Hiếu và Kính, người đó là người may mắn, người đó là người hạnh phúc, người đó là người có đầy đủ phước đức.
Bởi vì Hiếu và Kính là hai hạt minh châu quý báu tạo ra phước đức cho chúng ta đời này và đời sau.
Hiếu và Kính là hai chất liệu quý báu, là hạt minh châu tạo ra phước báu cho ta trong cõi người, khiến ta sinh ra trong cõi người, ta sẽ có người cha thông minh đức hạnh, ta sẽ có bà mẹ hiền dịu, dễ thương đã hy sinh toàn bộ cho con. Nếu ta sinh lên cõi trời, thì cũng từ hạt minh châu đó mà phước báu chư thiên của chúng ta được sung mãn và nếu chúng ta bước vào cõi Thánh, cõi Phật cũng được thiết lập trên nền tảng của Hiếu và Kính. Không có vị Thánh nào bất hiếu mà trở thành Thánh cả. Không có vị Phật nào bất hiếu mà thành bậc Toàn giác bao giờ.
Cho nên sống mà có hai chất liệu Hiếu và Kính trong đời sống của mình, trong mỗi trái tim của mình, trong mỗi cử chỉ, trong mỗi hành động của mình, đó là đời sống cao đẹp, đời sống hạnh phúc, đời sống có ý nghĩa. Vì sao? Vì đó là có cơ hội tiếp tục thăng hoa của mình từ một điểm đến toàn thể, từ một điểm đến chỗ cao quý tột cùng. Và nếu ta chết là hình hài này rã đi, các yếu tố vật chất không còn đủ để cho ta hành hoạt. Nhưng nếu trong tâm thức ta có đầy đủ hai chất liệu Hiếu và Kính, thì tuy hình hài ta hư rã, nhưng ta vẫn hạnh phúc và may mắn, bởi vì ta có viên minh châu Hiếu và Kính trong tâm ta, trong nghiệp thức của ta, thì dù hình hài này có rã đi nữa, thì ta sẽ tiếp tục có một hình hài khác đẹp hơn, quý báu hơn, đầy đủ tướng tốt hơn. Vì sao như vậy? vì trong ta có hạt minh châu Hiếu và Kính.
Nếu ta có chết đi và bỏ ngôi nhà này đi nữa, thì ta sẽ đi đến ngôi nhà rộng lớn hơn, ta có bỏ quê hương này đi nữa, ta cũng sẽ đi đến một quê hương rộng lớn mênh mông hơn cao đẹp hơn, nơi đó có đấng Từ Phụ chăm sóc ta không những về đời sống vật chất, mà còn chăm sóc ta đời sống tinh thần; không những tạo điều cho ta đầy đủ phước báu một đời, mà còn có khả năng tạo cho ta phước báu nhiều đời. Phước báu ấy giúp ta có thể thăng hoa và phát triển đến chỗ viên mãn, đến chỗ y báo, chánh báo trang nghiêm như chư Phật.
Vì vậy chết mà trong tâm thức ta có hai hạt minh châu Hiếu và Kính, thì đó là cái chết vinh quang, cái chết đó là cao quý, chứ không phải chết là một sự rủi ro.
Vậy giờ đây tất cả quý vị trong tang quyến cũng như đại chúng có nhận ra được rằng, thế nào là sự sống rủi ro và cái chết rủi ro của con người chúng ta?
Thế nào là sự sống may mắn và hạnh phúc cũng như cái chết may mắn và hạnh phúc của con người chúng ta?
Khi nhận ra được cái rủi ro trong đời sống con người của chúng ta, thì chúng ta dứt khoát loại bỏ nó ra khỏi tâm thức ta, loại bỏ nó ra khỏi lời nói của chúng ta hàng ngày. Và khi ta ý thức được rằng, hạt minh châu làm đẹp đời ta, làm vinh quang đời ta, thì ta hãy ôm ấp nó, chăm sóc nó, phát triển nó, từ nơi một điểm của tâm hồn trở thành toàn thể của tâm hồn ta. Và từ nơi tâm hồn ta mà biểu hiện ra trong lời nói của chúng ta mỗi ngày, cho nên lời nói của chúng ta khi nào cũng hiển bày chất liệu của sự thương yêu, của sự quý trọng, của sự chân thật và nó sẽ chuyển tải ra trong hành động của mỗi chúng ta, để mỗi khi ta hành động là ta luôn nghĩ đến lợi mình, lợi người, lợi đời này và lợi đời sau, lợi cho ta ở thế giới này, mà còn lợi cho những người thân yêu của ta ở thế giới khác, chúng ta phải thực tập như vậy, sau khi chúng ta ý thức được thế nào là một đời sống có ý nghĩa, thế nào là một sống vô nghĩa, thế nào là một cái chết có ý nghĩa, thế nào là một cái chết vô nghĩa, cái chết rủi ro bất hạnh.
Cũng vì tất cả quý vị trong tang quyến ý thức được rằng, chết có chất liệu Hiếu và Kính là thăng hoa cuộc sống và làm đẹp cho cuộc đời hiện tại và tương lai, cho nên quý vị đã dâng hoa lên cúng dường mẹ mình, chị mình, em mình, cô mình, dì mình, bác mình, thím mình, mợ mình… và những người thân yêu của mình bằng tất cả chất liệu Hiếu và Kính và quý vị cũng đã nói lên được tất cả những gì trân quý nhất, đẹp nhất đối với mẹ mình, đối với người thân yêu của mình đã qua đời và quan trọng hơn hết là có những đau buồn khi người thân qua đời quý vị đã nén được và biết chuyển hóa niềm đau của mình thành ra niềm hạnh phúc, biết chuyển hóa cái nhìn tầm thường của mình trở thành ra cái nhìn cao quý xuyên suốt mọi không gian, xuyên suốt mọi thời đại, cho nên việc thể hiện sự Hiếu Kính của quý vị là sự thể hiện Hiếu Kính một cách có ý nghĩa đối với chánh pháp, biết nén sự đau thương, biết nén sự sinh ly tử biệt, thành ra bồ đề tâm, trở thành ra đại nguyện, trở thành ra sự cầu nguyện cao khiết, đó là một việc làm có ý nghĩa.
Buông Bỏ Và Lên Đường:
Giờ đây xin quý vị trong tang quyến hướng về Tam Bảo hướng về thân linh của mình, để tôi có vài lời khai thị đối với thân linh.
Hỡi hương linh chị Nguyễn Thị Vỹ,
Pháp danh Nguyên Khai, mặc nhiên lắng nghe!
Hương linh của chị nghe Thầy hỏi, trước khi chết chị có sợ chết không? Khi mang thân người chị có sợ chết không? Khi mang thân người, làm mẹ cũng khổ, làm vợ cũng khổ, làm người cũng khổ, nhưng có khi nào chị không sợ chết không?
Ở thế gian này ai cũng sợ chết cả, dù họ sống rất đau khổ, dù sống đang bị đày đọa, nhưng người ta vẫn ham sống và dù ham sống đến cỡ nào, thì những cái chết vẫn đến với tất cả mọi người.
Cái chết không phải từ trên trời rơi xuống, không phải từ dưới đất vọt lên, không phải từ phía phải, từ phía trái đi tới với mình, mà nó tới với mình ngay nơi sự sống của mình mới sinh ra. Mình sinh ra ở đâu là cái chết có mặt ở đó; mình sinh ra lúc nào, thì cái chết có với ta từ lúc ấy. Cho nên, sợ chết là một điều vô lý nhất của con người.
Những bậc Thánh trí trên đời, không ai sợ chết cả, chỉ có những kẻ phàm phu vô trí mới sợ chết mà thôi. Bậc Thánh trí chỉ sợ mình sống không có ý nghĩa, sống mà không nhận ra được chân lý của sự sống, để rồi tạo nghiệp sinh tử luân hồi – đó là cái sợ của bậc Thánh trí. Cho nên, các bậc Thánh trí biết rằng, chết không phải là hết, mà chết là tiếp tục sống với một đời sống khác, tùy theo nghiệp thiện ác của mình đã tạo.
Nếu trong đời hiện tại tạo nghiệp ác, thì sau khi kết thúc sinh mệnh sẽ sinh vào thế giới thấp kém và nếu trong đời hiện tại mình biết tin Tam Bảo, biết ăn chay niệm Phật, biết tin nhân quả tội phước, biết Hiếu Kính đối với Tổ tiên, ông bà, cha mẹ; có niềm tin chân thật đối với con cháu; có nếp sống chân tình với mọi người xung quanh, thì một lần chết là một lần thăng hoa của sự sống, một lần chết là một lần bông hoa nở ra thơm và đẹp, các bậc anh tú thấy rõ như vậy, cho nên mới tuyên dương chánh pháp để cho chúng sanh nhận thấy con đường sống và chết thế nào, để tự mình chọn lựa mà lên đường một cách dứt khoát và khuyến khích mọi người lên đường một cách dứt khoát và có ý nghĩa.
Chính bây giờ chị cũng đã lên đường, đang lên đường và sẽ lên đường. Vậy, khi lên đường Thầy tin chắc rằng, trong tâm thức của chị đã có Phật, có Pháp, có Tăng, có Năm giới quý báu và chị lên đường Thầy tin tưởng rằng, trong con người chị, trong tâm hồn chị, đã có đầy đủ hai chất liệu Hiếu và Kính đối với tổ tiên ông bà cha mẹ. Trong tâm hồn của chị đã có sự chung thủy đối với người yêu của mình và có sự hy sinh to lớn đối với con cháu của mình; sống có nhân ái với mọi người, cho nên hôm nay chị xả bỏ thân này, chị sẽ thay đổi thành thân khác cao đẹp hơn, chị đừng luyến tiếc gì nơi thế giới hư huyễn này nữa, chị hãy mạnh dạn lên đường!
Tỉnh Giác Với Những Ánh Sáng Trước Mặt:
Hỡi hương linh chị Nguyễn Thị Vỹ,
Pháp danh Nguyên Khai, lắng nghe thầy nói!
Giờ đây, trước tâm thức của chị bao nhiêu ánh sáng đang chập chờn, chập chờn quyến rũ chị đi theo hướng ấy.
Ánh sáng màu đen xám đang chập chờn trước tâm thức của chị, cho nên chị phải chánh niệm tỉnh giác và biết ánh sáng đó chiếu ra từ thế giới địa ngục, nên giờ phút nầy, chị phải giữ tâm chánh niệm, nghĩ rằng, tôi đã quy y Tam Bảo, đã từng thọ trì năm giới quý báu, đã tin tưởng vào ánh sáng đỏ rực của đức Phật A di đà, cho nên ánh sáng này không thích hợp với tâm nguyện của tôi khi sinh tiền. Vì vậy, chị không đi tới với ánh sáng đen xám, chập chờn trước tâm thức của chị.
Bây giờ là một loại ánh sáng khác, ánh sáng màu đỏ đang chập chờn trước tâm thức của chị. Chị phải giữ chánh niệm tỉnh giác và biết ánh sáng màu đỏ đang chập chờn đó là ánh sáng của loài ngạ quỷ, đó là ánh sáng của loài đói nghèo. Chị phải giữ gìn chánh niệm không đi tới với ánh sáng đỏ đó, chị phải khởi lên tâm nguyện rằng, tôi là Nguyễn Thị Vỹ, pháp danh Nguyên Khai đã từng quy y Phật, đã từng quy y Pháp, đã từng quy y Tăng, đã từng giữ gìn năm giới quý báu, đã biết ăn chay niệm Phật và nguyện khi xả bỏ thân này được sanh về thế giới Tịnh độ của đức Phật A Di Đà ở phương Tây, để tu tập và thoát ly sinh tử, nên ánh sáng màu đỏ chập chờn trước tâm thức tôi, không phải là ước nguyện của tôi.
Hương linh của chị giờ phút này đã vượt qua được ánh sáng màu đỏ chập chờn rồi, thì một loài ánh sáng khác xuất hiện, quyến rũ hấp dẫn chị đi theo, đó là ánh sáng màu xanh. Chị phải biết rằng, ánh sáng màu xanh là ánh sáng của loài súc sinh, đó là ánh sáng của sự ngu dốt, của sự cố chấp, của sự sống theo bản năng thú tính, cho nên trong giờ phút này, chị hãy duy trì năng lượng chánh niệm; phải nhớ rằng, tôi đã từng quy y Phật, đã từng quy y Pháp, đã từng quy y Tăng, đã từng giữ gìn năm giới quý báu, đã từng ăn chay, niệm Phật và có tâm nguyện sanh về thế giới Tịnh độ của đức Phật A Di Đà ở Phương Tây. Cho nên, ánh sáng này không phải là ánh sáng của tôi hướng tới, tôi ước vọng. Chị phải chánh niệm tỉnh giác như thế, mới không bị cuốn hút bởi ánh sáng màu xanh đang chập chờn trước tâm thức của chị.
Vượt qua ánh sáng màu xanh, thì giờ đây, trước tâm thức của chị đang đối diện với một loại ánh sáng khác màu xanh lục, màu xanh của loài Atula, đó là loại ánh sáng từ nơi tâm thức kiêu ngạo, từ nơi tâm thức giận hờn, ưa tranh hơn thua mà sinh khởi, nên thế giới atula là thế giới chiến tranh và cực kì khổ đau; cực kỳ thất vọng và sân hận cực kì. Cho nên, trong giờ phút này, ánh sáng màu xanh lục đó, đang chập chờn chập chờn trước tâm thức của chị, chị phải duy trì năng lượng tỉnh giác và biết rằng, mình đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Đã quy y Phật, thì không còn đọa vào địa ngục; Đã quy y Pháp, thì không còn đọa vào ngạ quỷ; Đã quy y Tăng, thì không còn bị đọa vào súc sinh và phát tâm giữ năm giới, thì thành tựu phước báu trời người, để thoát ly sanh tử. Cho nên ánh sáng màu xanh lục của loài atula không phải là nơi đến của chị, không phải là cõi đi về của chị, chị hãy nhớ và dứt khoát không đi theo ánh sáng ấy.
Này hương linh chị Nguyễn Thị Vỹ, pháp danh Nguyên Khai, mặc nhiên lắng nghe!
Tâm thức của chị giờ này, đã vượt qua 4 loại ánh sáng rồi, giờ này tâm thức chị đang tiếp xúc với ánh sáng màu vàng nhạt, chập chờn, chập chờn trước mắt chị, đó là ánh sáng của nhân loại. Đây là ánh sáng của phước báu làm người.
Hơn ai hết, hơn 59 năm có mặt giữa cuộc đời, chị cũng nếm thấm những hạnh phúc, những đau khổ do thế giới con người đem lại. Ở trong thế giới con người, dù được làm vua, quan, làm tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng, là nhà giàu có, tỷ phú, nhưng chỉ cần sa cơ thất thế, thì bao nhiêu sự nghiệp trở thành mây khói tan tành. Nên, phước báu loài người tuy có đó, nhưng rất mong manh, sự có mặt của phước báu loài người như sương mai, như nắng chiều, như ánh chớp hoàng hôn.
Vì vậy, những bậc Thánh trí trong đời, khi được phước báu làm người rồi, thì liền quy y Tam Bảo để trau dồi phước đức đó và tu tập để thành tựu phước báo cao hơn, đó là phước báo của các bậc thánh, bồ tát và Phật.
Cho nên, trong giờ phút này ánh sáng màu vàng nhạt đang chập chờn, chập chờn trước tâm thức của chị, chị hãy duy trì năng lượng chánh niệm, chị phải nghĩ rằng, chị đã từng quy y Phật, đã từng quy y pháp, đã từng quy y Tăng, giữ gìn năm giới quý báu là để thoát ly sinh tử luân hồi, chứ không phải tu tập là để nhận lấy cái phước báo mong manh của cõi người mà mạng người chỉ trong hơi thở. Chỉ một hơi thở ra, không thở vào là mọi điều trong thế giới con người đều trở thành vô nghĩa.
Vượt qua được ánh sáng màu vàng nhạt của thế giới loài người rồi, thì loại ánh sáng khác liền xuất hiện trước tâm thức của chị, đó là ánh sáng màu trắng của chư thiên. Ánh sáng này do tu tập thập thiện nghiệp đạo mà thành. Nhưng dù sanh vào thế giới của chư thiên; được làm trời Đế Thích; được làm Chúa trời ở Dục giới; được làm Phạm Thiên ở Sắc giới; hoặc được làm chư thiên Vô sắc giới, cũng còn ở trong sinh tử luân hồi mà thôi.
Bởi vì cõi trời Dục giới, vẫn còn bị ái dục làm khổ đau; cõi trời Vô sắc giới, thì vẫn còn sắc kiến và sắc ái làm cho khổ đau; cõi trời Vô sắc giới, thì vẫn còn tưởng ái và vô tưởng ái làm cho khổ đau. Còn khổ đau là còn trôi lăn trong sinh tử luân hồi. Vì vậy mà khi sinh tiền chị đã phát tâm quy y Tam Bảo.
Quay Về Nương Tựa:
Quy y Phật thì thề trọn đời không quy y trời thần quỷ vật hay đời đời kiếp kiếp không quy y trời thần quỷ vật. Đã quy y Pháp thì thề trọn đời không quy y ngoại đạo tà giáo hay nguyện đời đời kiếp kiếp không quy y ngoại đạo tà giáo. Đã quy y Tăng, thì thề trọn đời không quy y bè bạn xấu ác hay đời đời kiếp kiếp không quy y bè bạn xấu ác.
Vì sao không quy y trời thần quỷ vật? Vì trời thần quỷ vật vẫn còn trong sinh tử luân hồi, thì vẫn còn khổ đau, nên ta không quy y.
Vì sao quy y Pháp là không quy y ngoại đạo tà giáo? Vì tất cả những học thuyết, giáo thuyết của các tôn giáo, chỉ diễn tả những cái nằm trong sinh tử luân hồi, mà chưa có phương pháp đoạn diệt ái dục của Dục giới, đoạn diệt ái kiến của Sắc giới và đoạn diệt vô tưởng ái của Vô sắc giới để thoát ly sanh tử luân hồi. Chỉ có giáo pháp của Phật mới đầy đủ năng lực giúp cho người thực hành đoạn từ được ái dục của Dục giới; đoạn từ sắc ái của Sắc giới và đoạn từ vô tưởng ái của Vô sắc giới để thóat ly sinh tử luân hồi. Bởi vì vậy mà người đệ tử Phật không quy y với ngoại đạo tà giáo.
Vì sao người đệ tử Phật, quy y Tăng mà không quy y tà sư ác hữu? Vì Tăng là một đoàn thể đẹp đã chọn lựa đức Phật là thầy, đã chọn Pháp là phương pháp thực hành; là con đường đi đến Niết bàn và Tăng là một đoàn thể sống đời sống hòa hợp và thanh tịnh. Tăng là một đoàn thể xuất gia đệ tử của Phật, lấy thanh tịnh làm bản chất, lấy hòa hợp làm sự sống, lấy lợi tha làm nghĩa vụ. Tăng là đoàn thể đẹp như vậy, cho nên chị đã từng phát nguyện quy y Tăng không quy y bất cứ một đoàn thể nào khác, không nương tựa vào bất cứ một bạn bè nào khác là bởi vì muốn cùng nương tựa Tăng để đi trên con đường thoát ly sinh tử luân hồi.
Tăng là đoàn thể giúp ta nương tựa tu học để thoát ly sinh tử luân hồi, mà khi sinh tiền chị đã phát tâm như thế, đã phát nguyện như thế, vậy trong giờ phút này, trước tâm thức của chị, ánh sáng màu trắng nhạt, đang chập chờn, chập chờn, đó là ánh sáng của các loài chư thiên, đang đối diện trước tâm thức của chị. Vậy, chị phải giữ gìn hạnh nguyện và phát huy tố chất của ngươì Phật tử và chị nói rằng: ánh sáng của cõi trời Dục giới, ánh sáng của cõi trời Sắc giới và Vô sắc giới, không phải là điểm đến của người Phật tử. Người Phật tử chúng tôi là quy y Tam Bảo và giữ gìn năm giới, phát bồ đề tâm, hành bồ tát đạo, thiết lập tịnh độ của tự tâm để tu tập và hướng tới tha phương Tịnh độ để học hỏi.
Hướng Đến Tịnh Độ Tự Tâm Và Tịnh Độ Phương Tây:
Cho nên, mô thức Tịnh độ thiết thực nhất, mà nhiều Phật tử tu tập thường hướng tới là Tịnh độ của Phật A Di Đà. Vậy, trong giờ phút này, chị hãy đánh thức hạt giống Tịnh độ trong tâm của chị dậy, khiến cho ánh sáng Tịnh độ trong tâm thức chị phát ra, để có thể tương ứng với Tịnh độ của chư Phật mười phương. Và trong Tịnh độ của chư Phật mười phương, thì Tịnh độ của Phật A di đà là Tịnh độ mà hằng ngày chị hằng mơ ước.
Bây giờ chị hãy khởi tâm hướng về Tịnh độ của Phật A di đà. Khi chị khởi tâm hướng về Tịnh độ của Phật A di đà, thì ánh sáng vô lượng từ nơi Tịnh độ của Phật A di đà sẽ chạm vào tâm thức của chị. Chị nên biết rằng, thế giới Tịnh độ của Phật A Di Đà là ánh ánh vô lượng, ánh sáng đó được xây dựng trên Đại nguyện của đức Phật A di đà, khi Ngài còn hành Bồ tát đạo, cho nên ánh sáng của Phật A Di Đà là ánh sáng đỏ rực. Ánh sáng đó thường trực chiếu khắp cả mười phương thế giới, nhưng chúng sinh nào, chư thiên nào, nhân loại nào có tín tâm đối với cõi Tịnh độ của Phật A di đà và muốn sanh về thế giới của Ngài, mà chí thành, chí thiết, niệm từ một niệm cho đến mười niệm, mà tâm không điên đảo, vọng tưởng, thì ánh sáng đó xuyên qua tâm thức của chư thiên đó, của nhân loại đó, của chúng sanh đó, và khi ánh sáng đó đã xuyên qua được tâm thức của người đó, thì hạt giống tịnh độ nơi tâm thức người đó trổi dậy và tương ưng với ánh sáng đó và chỉ trong khoảnh khắc là được nhập vào ánh sáng ấy để về Tịnh độ của Phật A Di Đà.
Vậy, trong giờ phút này chị hãy quay vào trong tâm thức của chị làm cho hạt giống Tịnh độ trong chị phát khởi một cách mãnh liệt “bằng Tín; bằng Hạnh; bằng Nguyện.
Tín có nghĩa là tin. Tin rằng,ngoài ánh sáng của thế giới Tịnh độ Phật A di đà, chị không đi theo bất cứ ánh sáng nào nữa cả, không rơi vào cảnh giới nào nữa cả, chỉ có Tịnh độ của Phật A di đà và chị chỉ nguyện sanh về đó mà thôi.
Chỉ có một Hạnh nguyện duy nhất là giữ tâm chánh niệm thực sâu lắng, thực vững chắc để được sanh về Tịnh độ của Phật A di đà mà thôi.
Khi chị đã phát nguyện như vậy rồi thì ánh sáng đỏ rực của đức Phật A Di Đà đã xuyên qua tâm thức của chị và khi chị tiếp xúc được với ánh sáng đỏ rực của đức Phật A Di đà, chị đừng lo lắng, đừng sợ hãi, đừng khiếp đảm mà chỉ nói:
“Kính bạch đức Phật A Di Đà ở Phương Tây Thế giới.
Kính bạch Đức Bồ tát Quán Thế Âm là vị kế thừa ở phương Tây thế giới của Phật A Di đà.
Kính bạch đức Đại Thế Chí Bồ tát cũng là vị Bồ tát sẽ kế thừa thế giới Tịnh độ của đức Phật A Di đà trong tương lai.
Xin các ngài thương con, dùng ánh sáng vô lượng của các Ngài mà rọi vào tâm tư con, để cho bao nhiêu hạt giống chấp ngã, vô minh, phiền não, tham lam, tật đố nơi tâm con được tiêu trừ; để cho tâm con giờ phút này sáng choang lên, cảnh giới của đức Phật A di đà đã hiện tiền trong tâm con và tâm con đã có cảnh giới Tịnh độ của các Ngài”.
Chị hãy phát khởi rằng: “Xin các Ngài đem thuyền thọ mạng mà chuyên chở hình hài con, để hình hài con có cơ hội nhập vào thuyền thọ mạng vô lượng của các Ngài mà đạt tới chỗ vô sinh, bất diệt và xin các Ngài đem công đức vô lượng của các Ngài trùm lên hình hài con, trùm lên tâm thức con; để hình hài con có đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp như các Ngài; để tâm thức của con cũng có đầy đủ bồ đề tâm, đầy đủ bồ đề hạnh, đầy đủ bồ đề nguyện, như các Ngài; để trong tương lai các con tu tập và thiết lập Tịnh độ như các Ngài; để cho những ai có cơ duyên với chúng con đều về nơi Tịnh độ cùng chúng con tu học”.
Khi tiếp xúc với ánh sáng đỏ rực của đức Phật A Di Đà, chị hãy giữ tâm chánh niệm và luôn luôn nhớ những điều mà Thầy vừa nhắc nhở cho chị.
Vậy, bây giờ chị đã thấy ánh sáng đỏ rực của đức Phật A di đà xuyên qua tâm thức của chị chưa?
Những hạt giống tốt đẹp ở nơi tâm thức chị đã sáng lên chưa? Đã hiện khởi chưa? Nếu chưa, thì chứng tỏ rằng, nghiệp chướng của chị còn dày, báo chướng còn trở ngại, thì giờ này đây, chị hãy duyên nơi tâm Thầy, hãy duyên nơi trí của Thầy, hãy duyên nơi hạnh nguyện của Thầy và hãy duyên nơi tâm Hiếu Kính của con cháu, bà con thân thuộc của chị có mặt hôm nay, như là một năng lực trợ niệm, khiến cho tất cả những hạt giống tốt đẹp trong tâm thức chị phát sinh.
Bây giờ muốn phát sinh tâm thức đó, thì giờ này chị hãy phát tâm sám hối để cho bao nhiêu nghiệp chướng được tiêu trừ.
Giờ đây chị hãy duyên vào tâm của Thầy, trí của Thầy, tâm Hiếu Kính của con cháu… và con cháu đại diện cho chị mà nói theo Thầy:
“Bao nhiêu lầm lỗi cũng do tâm
Tâm tịnh còn đâu dầu lỗi lầm
Sám hối xong rồi lòng nhẹ nhỏm
Ngàn xưa mây bạc vẫn thong dong”.
Hỡi hương linh chị Nguyễn Thị Vỹ, pháp danh Nguyên Khai!
Như vậy, giờ phút này tâm thức của chị đã hoàn toàn lắng yên rồi, cội nguồn tâm linh của chị đã mở ra rồi, cho nên chị hãy ôm lấy chất liệu Nguyên khai của mình, mà đi về Tịnh độ, nguyên là cội nguồn tâm linh, khai là mở ra. Từ nơi cội nguồn tâm linh mà được khai mở.
Từ nơi cội nguồn tâm linh của Phật pháp; từ nơi cội nguồn tâm linh Tịnh độ đã mở ra cho tâm linh của chị đi vào, bây giờ tâm linh của chị hãy đi về đó, hoa sen chín phẩm đang nở ra để đón chờ tâm linh của chị. Đức Phật A Di Đà và Thánh chúng ở phương Tây đang mỉm cười, đang phóng quang và đưa tay vàng tiếp độ tâm linh của chị. Vậy, tâm linh của chị hãy:
“Nhẹ gót lên đường về cõi Phật
xa lìa phiền não chốn trần ai.
Chín phẩm hoa sen là cha mẹ
vui đăng tiêu dao dưới Phật đài”.
Nam Mô Đăng Vân Lộ Bồ Tát Ma Ha Tát.
Phật tử Tâm Lý và Nguyên Phán Biên Chép
