Chương trình mừng ngày thành lập website thuviencophap.org
Dẫn nhập: Đây có thể là ngôi nhà thứ hai mà chúng ta bước đến, đến với nhau bằng cả tấm lòng tinh túy và hiểu biết thương yêu. Anh chị em (ACE) đã đi được một chặn đường gầy dựng sự tưới tẩm hạt giống hiền thiện cho cuộc sống thêm tươi mới dù vẫn còn ngắn, ít ỏi nhưng cũng thể hiện được lòng biết ơn đối với Tam bảo, Cha mẹ, Thầy tổ và giúp phần nào làm lành mạnh hóa xã hội, nuôi dưỡng thân tâm thanh tịnh theo lời Phật dạy. Đó là chất liệu, đó là tinh thần từ bi, hỷ xả, bao dung của Đạo Phật. Một năm qua, hướng đi của Ban Hướng Dẫn Diễn Đàn Vẻ Đẹp Phật Pháp đã thiết lập nên nền tản đạo đức tính, giáo dục tính, tâm linh tính cho những hạt giống biết hòa mình vào vũ trụ, có mặt một cách chân thật với sự sống.
Chuyên mục: Nói với ước mơ là gì ?
Ra mắt 10 CD Văn thơ, Phật pháp của Thầy giáo thọ.
Thiền trà, chia sẽ, kết nối tình đạo sỹ.
Ý nghĩa: Tạo dựng diễn đàn kiên cố, phụng sự hết lòng và sống trọn vẹn với lý tưởng. Cùng nhau tu tập mang lại sự an lạc chuyển hóa thân tâm để làm đẹp cho cuộc đời và đơm hoa kết trái ( giác ngộ).
Địa Điểm duy trì sinh hoạt:
Chương trình tu học thường kỳ của CLB Vẻ Đẹp Phật Pháp sẽ diễn ra vào lúc 2:00 chiều ngày 09 tháng 10 năm 2011 tại trung tâm tu học Trăng Rằm, phòng E1, lầu 3, Chung cư 590 Cách Mạng Tháng 8, Quận 3, TP HCM.
Thành phần tham Dự :
Bao gồm toàn thể anh chị em đã đăng ký tham gia CLB ( Ban Hướng Dẫn) Vẻ Đẹp Phật Pháp, cùng với sự có mặt của thầy chủ nhiệm Đại Đức Thích Pháp Bảo và quý Thầy, trong Ban giảng huấn Thầy Hạnh Đạo, Mãn Pháp, Hồng Chơn, Tâm Thức, Hiếu Niệm. Đặc biệt đại chúng sẽ được thưởng thức tiếng đàn mộc và những bài thiền ca đầy sâu lắng của Thầy Pháp Cẩn. Anh chị em có thể giới thiệu bạn bè, người thân cùng tham gia và kết nối tăng thân để CLB ngày càng thêm vững mạnh. Góp phần xây dựng tín tâm hòa hợp ấm áp, giúp đỡ lẫn nhau như một gia đình tâm linh trong lòng quê hương.
Chương trình dự kiến:
Sẽ có buổi thực tập tọa thiền, niệm hương lễ Phật, ứng dụng Phật học vào mọi sinh hoạt để tháo gỡ những khó khăn và chế tác hạnh phúc.
Phần chính chương trình:
CLB sẽ là tiếp tục chia sẻ học tập các nghi thức tụng niệm và ý nghĩa của sự thực tập qua buổi “ Thiền Trà Nghi Lễ ”. Truyền trao những kinh nghiệm làm việc, học kinh và chấp nhận, cách tiếp cận đạo lý.
Phân công chấp tác:
1. Văn thư chào mừng, nuôi dưỡng: Thư ký Ban: P.T Nguyên Niệm.
2. Làm báo cáo thành tựu chuyển hóa: Tri sự Ban: P.T Tấn Lộc.
3. Tán dương tổ chức và Ban Hướng Dẫn GĐ VĐPP: Thầy Pháp Bảo.
4. Liên lạc sự kiện: P.T Đức Ân.
5. Trang Trí: P.T Phật Tâm, Đạo Minh.
6. Chuẩn bị: P.T Thánh Đức, Tịnh Hương. (Ban Tri Sự)
7. Đón tiếp và quỹ viên: P.T Lê Minh và Nguyên Minh
8. Âm thanh, ánh sáng: Hoàng Đức ( Nhuận Chánh)
9. Trà nước, bánh trái: P.T Phật Đạo, Như Mai( Diệu Xuân)
10. Vị trí Thiền trà: Cư sĩ Thiện Tài, Tấn Lộc.
11. Ẩm thực nhỏ: Diệu Minh, Bảo Châu.
12. Ban bảo trợ chương trình: gây nguồn quỹ hoạt động hoằng pháp.
Giới thiệu, cơ cấu, thành phần khách mời tham dự:
- Thầy Giác Thiện, N.S Nguyễn Hiệp, NS. Chúc Sen, Anh Thi, Anh Thọ, Chị Quỳnh, Chị Cúc (Tâm Lý), Cô Hoàng Thiên (Phổ Tịnh), Chị Nga, Cô Giác Kim, Minh Triết, Quang Bảo, Tiến sĩ PT Mạnh Hùng.
- Qùa tặng, ý thức tu tập, trách nhiệm: ( đề xuất mỗi vị tự làm cho nhau 1 món quà ý nghĩa và đầy đủ phẩm chất thanh cao).
- Nghi thức sử dụng:
Bản kinh: Chỉ Quán Yếu Lược.
Tụng bài: kinh Hạnh Phúc
Đồng ca: Bài ca Bi Trí
Bài Pháp thoại của Thầy giáo thọ ( Thượng tọa Thái Hòa)
Mục đích xây dựng hướng đi:
*Chia sẽ Phật pháp, trao dồi cương lĩnh Phật học.
*Nâng cao chuyên môn và phương pháp nhập thế ( vào đời).
Tìm nhà bảo trợ hảo tâm, các nhà mạnh thường quân:
*Ấn tống kinh sách, Từ thiện, Ấn hành Sách đọc, Pháp thoại DVD- MP3.
*Nhuận phí thực tập và chi trả thù lao bài viết, sắm tọa cụ, tách trà, phù hiệu, đồng phục và bông hoa, đèn nến, giấy mực, xăng cộ.
Thể hiện nét đẹp:
Ban hướng dẫn: Tổ chức thăm viếng bệnh tình, lễ sự, chúc tết, thăm hỏi, tặng hoa sinh nhật, ra trường, mở công sở và thường quan tâm đến gia đình các ban viên.
Kết Luận:
- Bổ nhiệm nhân sự cho các ban.
- Bổ nhiệm tân các trưởng ban.
- Bài tham luận, phát biểu soi sáng của các trưởng và phó ban.
- Hàng tuần viết thư, điện thoại thăm và nhận giáo huấn thọ giáo từ Ôn.
- Kết nối với các ban thị giả trên toàn quốc, các miền.
- Thời khóa biểu tu tập, nghe pháp hằng tuần.
Hậu trường bền lề:
Tiếp đó là chia sẻ của mỗi thành viên về kết quả tu tập của mình. Phần kết sẽ thảo luận để thống nhất các vấn đề liên quan đến tổ chức như đồng phục, hội phí, thành lập đội bóng thể thao cổ động và phân công trực tuần. Kết thúc buổi sinh hoạt, CLB sẽ hát lại bài ca Bi Trí, dọn dẹp trước lúc chào nhau.
Kính mong sự tham gia nhiệt tình của anh chị em để chúng ta có được những giây phút an lạc thảnh thơi đồng thời cũng là cơ hội anh chị em ta thắt chặt tinh thần vững chãi và gắn bó đoàn kết bên nhau.
Ban tổ chức chương trình VĐPP
Niềm vui và sự hiểu biết
Thích Thái Hòa
Ba chú điệu đi tụng kinh xong, tôi thưởng ba chú bốn hộp yaour.
Một điệu hỏi: “Thầy cho bốn hộp mà con ba điệu làm sao mà chia? Tôi nói: “Tùy các con”.
Trưa lại, tôi gọi mấy chú điệu lại hỏi, mấy con đã phân chia yaour cho nhau như thế nào?
Một điệu trả lời: Ba đứa con ba hộp, còn một hộp con chia cho điệu Thành.
Tôi nói: “Điệu Thành không gieo nhân sao lại hưởng quả? Điệu Thành lợi dụng nhân quả củangười khác là không tốt, là tội cho Điệu Thành.
Một điệu thưa: “Con chia ba điệu ba hộp, hộp còn lại con chia ba, cho ba người đều nhau.
Tôi nói: “Nếu như vậy, thì quá sòng phẳng, sòng phẳng đến mức lạnh lùng và khủng khiếp”.
Một điệu khác nói: “Bạch Thầy, thế thì phải chia thế nào? Tôi nói: Điệu nào được trao tráchnhiệm phân chia, điệu ấy phải chia cái tốt cho người, cái xấu cho mình, cái nhiều cho người,cái ít cho mình.
Tại sao? Vì người được giao cho trách nhiệm phân chia, tự nó đã có được một danh dự rấtlớn rồi, không cần phải quan tâm đến vật chia cho mình nữa.
ảnh- Điệu: Lời kinh chiều, chùa Thiên Mụ
Cái tốt, cái lợi thì nhường cho người, cái thiệt hại, cái xấu thì để lại cho mình, đó là hạnh củabậc đại nhân ở trong đời; còn nếu cái tốt, cái lợi để dành cho mình, cái xấu, cái thiệt hại thì đưa cho người khác, đó là cách hành xử của kẻ phàm phu. Vì vậy, họ bị mọi người oán đối không dứt, thù hiềm bất tận, nhân cách của họ bị hư hỏng, và bè bạn tránh xa.
Người xưa nói: “Ở nhà vườn, ăn cau sâu”. Câu ấy, có một nội dung hành xử rất đẹp và rấtđạo lý.
Vậy, các con phải nhớ và thực tập mỗi ngày, để mỗi ngày các con lớn lên trong chất liệu trí tuệ và từ bi.
Ba chú điệu, đều chắp tay vâng lời và kính lễ, rồi lui ra trong niềm vui và sự hiểu biết mới.
Học sinh miền quê nghe pháp và nhận quà Tết tại chùa Phước Duyên, Tp Huế, năm 2011
Tin từ web hoangphap.info
PHƯỚC DUYÊN
- Khách mời của chương trình: Thầy Trần Kim Cang
- Nội dung chương trình:
- Lạy Phật, Tọa thiền (chú Đức, anh Nguyên niệm hướng dẫn)
- Khách mời chia sẻ và truyền đạt một số kinh nghiệm để giúp các phật tử thành công hơn trên con đường tu tập
- Trao đổi kiến thức cơ bản về Phật pháp cho những thành viên mới của đại gia đình Vẻ Đẹp Phật Pháp.
- Thảo bàn chấp tác trong Diễn Đàn Vẻ Đẹp Phật Pháp của mỗi ban.
- Các thành viên Gia đình vui lòng đăng ký xác nhận việc tham dự cho Tịnh Hương qua facebook, email, hoặc điện thoại 0939 1155 37 trước ngày 29/07/2011 để chốt danh sách (Lưu ý: trong trường hợp không tham dự được, các thành viên vẫn có phản hồi về việc không tham dự)
mm
*Xin tặng người hữu duyên.
Trời bỗng dưng đổ mưa. Mưa xối xả. Mưa như trút. Tiếng mưa như báo hiệu cơn bão sắp về, mưa như mưa mùa lụt tháng 10, một chuyện hiếm thấy vào tháng 12 Âm lịch. Mới buổi sáng trời còn tạnh ráo vậy mà. mm thở dài. Chuyện này cũng không có gì lạ đối với mm. Cứ mỗi khi mm dự định làm điều gì đó quan trọng là y như rằng sẽ có trở ngại, khó khăn. Hình như chưa bao giờ mm có được điều mình muốn, hoặc nếu có thì cũng chưa bao giờ đạt được một cách dễ dàng, thuận lợi và trọn vẹn cả.
mm vẫn quyết định sẽ đi. Cô đánh răng, gội đầu, tắm rửa sạch sẽ. Mưa gió và trở ngại không đủ để ngăn cản được bước chân cô, vì cô không thể chịu đựng thêm nữa. Cái nhu cầu cần giải tỏa, cần một người lắng nghe, cần một liều thuốc chữa trị phiền não, khổ đau trong cô đã lên tới đỉnh điểm, sức chịu đựng trong cô đã không còn nữa. Cô tự thấy ngạc nhiên vì đến giờ phút này mà mình còn ở đây chứ không phải là một bệnh viện tâm thần nào đó. Cô phải tìm, phải gặp được Thầy, ngay hôm nay! Nếu không đi, cô không dám chắc liệu ngày mai cô còn đủ tỉnh táo để ngăn mình khỏi những hành động đáng tiếc nữa hay không. Thực sự, nhiều khi mm đã tự hỏi “liệu cái chết có giúp cô thanh thản hơn không”.
mm đứng trước bàn thờ, chắp tay cầu nguyện đức Phật từ bi phù hộ cô gặp được người cần gặp, đủ can đảm để nói được điều cần nói, tìm được thứ cần tìm.
Trời vẫn cứ mưa, ngày càng to và nặng hạt hơn. mm vẫn cứ đi. Đường đến chùa sao mà xa quá, vắng quá, lạnh lẽo quá. mm không biết mình có nhầm đường không nữa. Cô chỉ biết hy vọng là không, hy vọng là mình đủ phước đủ duyên để đến được nơi ấy.
Kia rồi! mm đã thấy cái bảng chỉ đường với hàng chữ “chùa Phước Duyên” cùng mũi tên bên dưới. Bỗng nhiên, cô thấy sợ, lại hồi hộp, lại lưỡng lự. Nhưng…như có cái gì lôi kéo, mm vẫn tiến về phía trước.
Tới chùa rồi. Vắng quá! Không có bóng một ai cả! Ừ, thì làm gì có ai lại đến chùa vào một ngày mưa gió, lại là vào giờ này kia chứ. Các thầy trong chùa cũng không ai ra sân làm chi. Mưa, lạnh ghê thế này mà. Lại lưỡng lự, lại sợ. Bệnh nhát gan của mm lại bộc phát rồi. mm đứng ngần ngừ một lúc trước cổng chùa rồi cuối cùng cũng quyết định dắt xe vào. Cô dựng xe ở mép sân, gần sát cổng. Lưỡng lự... Lại ngồi yên trên xe. “Thôi nào, cố lên! Bây giờ hoặc không bao giờ. Thầy ở trong kia mà, chỉ cách mình có 20m thôi. Đứng dậy, đi vào và nói cho con gặp thầy Thái Hòa là xong thôi mà”. Tự động viên mình như vậy, mm cởi áo mưa, căng dù lên và đi thẳng đến …hồ nước, nơi có tượng đức Quán Thế Âm. Cô lại không đủ can đảm để đi đến nơi cần đến. Cô sợ. Sợ nhiều cái quá! Nhiều cái “ngộ nhỡ…”, “lỡ mà…” quá! Lỡ không có Thầy trong kia. Lỡ Thầy nhập thất rồi. Lỡ họ không cho mình gặp. Lỡ họ nói mình điên. Lỡ Ôn Lương Phương nhận ra mình… mm ước sao mình đủ dũng cảm để bước vào trong kia. Chỉ 20m và một câu hỏi thôi là đã xong một nửa đoạn đường nhưng cô không thể vượt qua được. “Thầy ơi! Thầy có nghe thấy lời con nói không? Ước chi bỗng dưng Thầy xuất hiện trước mặt con lúc này, hỏi con cần gì, tìm ai”. mm đã đứng như thế rất lâu, rất lâu. Rồi cô quyết định đi về phía Đại Hùng Bảo Điện. Người ta đóng cửa rồi, sẽ không ai nhìn thấy cô cả. Ngồi đó, cô thấy mình được che chở. mm ngồi co ro, thu mình lại, nhìn cảnh chùa vắng lặng, nghe tiếng mưa rơi, tiếng cuốc kêu, tiếng ếch nhái oàm oạp, ồm ộp và thật lạ, cô thấy lòng mình bình yên. Thỉnh thoảng, những ý nghĩ, những kỉ niệm đau buồn lại ùa đến khiến cô thấy nhức nhối trong tim, nhưng nhanh chóng qua đi chứ không dai dẳng như trước nữa.
Có tiếng cười đùa. mm quay lại nhìn. Là hai chú điệu. Họ cười với mm rồi đi vào. “Không phải Thầy!” mm ước giá như đó là Thầy Thái Hòa, người mm cần gặp. Nhưng ước thì có ích chi. Cả đời mm toàn ước và không có cái ước nào thành sự thật cả. Vô nghĩa!
Một chiếc xe đang đi vào chùa. Trên xe là một cô gái. Cô ấy có vẻ ngạc nhiên. Cô cười và đi thẳng vào sân sau. “Chắc là một phật tử. Chắc chị ấy ngạc nhiên khi thấy mình ngồi đây lắm đây. Mà kệ! Chùa thì ai ngồi chẳng được. Nghĩ sao thì nghĩ. Dù sao thì cũng có ai thương mình đâu. Dù sao thì trong mắt người khác mình cũng là một đứa bỏ đi, một đứa phiền nhiễu, lì lợm, đáng ghét rồi mà. Không còn chi quan trọng với mình nữa cả.”
- Này!
mm giật bắn người, suýt ngã ra nền nhà vì sợ. Lấy lại bình tĩnh, cô quay đầu. Trước mắt cô là một vị đại đức.
- Làm chi mà ngồi đây?
- Dạ ngồi cho đỡ buồn.
mm quay mặt đi, cố lấy giọng thật bình thường để trả lời nhưng thật ra thì mm đã khóc từ lúc nào. Lạ thật! Mấy ngày nay buồn mà mm có khóc được đâu. mm tưởng mình chai sạn rồi, tưởng lòng mình chết rồi, tưởng không còn nước mắt để khóc nữa.Vậy mà mới nghe Thầy hỏi một câu, mm đã khóc òa, không kìm nén được. Như dòng suối lâu nay bị đá cản không chảy được, giờ có người chỉ đưa tay chạm nhẹ, lấy đi một hạt sỏi nhỏ cũng đủ làm dòng nước tuôn trào. mm khóc không phải vì khổ, không phải vì buồn, vì tuyệt vọng mà vì tủi.
- Vậy là vì buồn mà tới chùa hả? Thôi, ngồi đó làm chi. Đi vô đây uống nước nói chuyện.
- Dạ.
Dạ mà không có ý thức. Dạ như một phản xạ- có người hỏi thì trả lời. mm thấy không còn đủ sức lực để kháng cự, để lì lợm, để sợ sệt, để suy nghĩ nữa.
- Vô thưa Ôn đi con. Ôn ngồi trên ghế đó.
- Dạ thưa Ôn!
- Ừ! Lên chơi hay có chuyện chi?
- Dạ con lên chơi thôi.
- Rứa thì ra ngồi uống nước.
- Dạ!
- “Ngồi xuống đây đi con. Uống nước này”. Thầy chỉ ghế và đưa cho mm chén trà. Ấm! Không biết là tại chén trà ấm hay lòng mm đã bớt lạnh?
Mọi người đang nói chuyện. Ai cũng vui vẻ-trừ mm. Đối với mm, tất cả những âm thanh đang phát ra đó chỉ là một mớ hỗn độn, vô nghĩa. Nhìn người lại nghĩ đến mình, mm càng thấy tủi thân. Cô lại lạc vào những suy nghĩ riêng tư, những băn khoăn, nuối tiếc. Có lẽ thấy bệnh của mm nặng, cần liều thuốc mạnh, Thầy bảo mm theo Thầy vào thư phòng nói chuyện. Cô chỉ biết ngoan ngoãn đi theo. Tựa kẻ lữ hành lạc lối trong rừng thẳm, giữa bóng tối mịt mù, chỉ mong thoát ra nhưng bất lực, buông xuôi cho số phận, chợt nhìn thấy ánh sáng lóe lên từ phía xa kia, không cần suy nghĩ, không cần đắn đo, đôi chân mm cứ vậy mà bước về hướng đó.
mm ngồi đó, đối diện với Thầy. Thầy không nói gì cả nhưng mm cảm nhận được sự ấm áp, tình thương, sự cảm thông và cả nỗi xót xa trong đôi mắt Thầy. Ánh nhìn như soi rọi vào tận thẳm sâu trong tâm hồn, chiếu vào những cảm xúc, nỗi đau câm nín của cô. Ánh nhìn thôi thúc mm nói. Lần đầu tiên trong suốt 24 năm qua cô kể với người khác chuyện của mình. Những suy nghĩ, những áp lực, những tình cảm, những nuối tiếc, hối hận, cả những hổ thẹn. Tất cả. Không cần kìm nén. Không cần đắn đo. Không cần dấu diếm. Thầy vẫn kiên trì lắng nghe, không hề chê bai, không hề tội nghiệp, cũng chẳng tỏ ý khinh thường.
Rồi mm cũng kể xong. Thầy mỉm cười:
- Dấu trong lòng chừng đó chuyện chắc là mệt lắm phải không con! Con uống nước đi!
Khi mm đã bình tâm trở lại, Thầy nói cho cô nghe một số chuyện, một số điều nên làm, một số thứ cần buông bỏ để được thảnh thơi. Thầy nói rất ít. Và mm thấy biết ơn vì điều đó. Lúc này, thực sự thứ cô cần là sự cảm thông, là sự yên tĩnh. Mọi lời giáo huấn sẽ trở nên phí phạm. Cô sẽ còn trở lại đây nhiều lần nữa mà.
- Coi như là con có duyên. Đây là quyển sách thầy của Thầy mới viết. Cho con. Mở rộng đường mà đi con nhé”
mm cầm lấy cuốn sách- là cuốn “Mở lớn con đường” của Thầy Thái Hòa. Thầy còn cho mm một cái đĩa CD ghi lại những bài thuyết pháp của thầy Thái Hòa nữa. mm thấy ngạc nhiên vô cùng. Vậy là lời cầu nguyện của cô cũng đã được nghe thấy. Dù không được trực tiếp nói chuyện với thầy Thái Hòa, nhưng cũng như là đã nói. Thì ra người nói chuyện với mm này giờ là đệ tử của Thầy. mm còn được đọc sách và nghe đĩa của Thầy nữa. Ôi chao! Vậy là mm cũng còn có duyên. Vậy là mm vẫn còn có phước.
- Giờ thì để cặp ở đây rồi ra ngoài kia làm bánh lọc với mọi người. Xong, ở lại ăn cơm chiều rồi mới về nghe con.
Trong cuộc đời mm, chưa lần nào cô thấy việc làm bánh lọc lại hạnh phúc đến vậy. Lần đầu tiên cô cảm nhận được niềm vui khi để toàn bộ tâm ý mình vào cái bánh đang làm; khi ý thức được từng hành động của mình; khi trong đầu không hề có một ý nghĩ nào khác ngoài cái bánh- không hề có sầu lo, muộn phiền. Một niềm vui trong lành như sương mai, nhẹ nhàng như gió xuân hây hẩy. Cô cảm nhận được cả sự ấm áp của tình thương giữa những con người chưa một lần gặp mặt. Không còn ích kỷ; không còn nghi ngờ. Chỉ có tình thương, tình người.
Cũng là con đường hồi trưa đã đi nhưng lúc này mm không còn thấy vắng vẻ, cô quạnh nữa. Gánh nặng trong lòng cô đã nhẹ đi nhiều. Cô chợt mỉm cười khi nhớ đến câu nói mộc mạc mà đầy ý nghĩa của Thầy: “Mình muốn ăn chả, nhưng sức người ta chỉ có thể đáp ứng được cho mình củ sắn thì cũng đừng cố đòi ăn bằng được chả- người ta sợ rồi bỏ chạy mất”. Ừ, chỉ tại mm tham, cố đòi ở người ấy thứ người ấy không có nên mới ra nông nổi này. Từ nay, mm sẽ cố để không đòi hỏi ở bất kỳ ai bất cứ điều gì. Sẽ khó lắm đây, nhưng mm tin mình sẽ làm được. Từ nay, mm sẽ gắng để thôi không sầu nữa. Khi nào buồn, mm sẽ nhớ đến hình ảnh Ôn Lương Phương quét lá. Từng nhát chổi nhẹ nhàng, chậm rãi. Những chiếc lá ngoan ngoãn nằm gọn thành đống trên sân chùa. Tà áo vàng thanh thoát bay bay, vô tư đùa cùng gió chiều trong ánh hoàng hôn đang tắt dần, mặc cho bóng tối đang tràn về từ phía chân trời xa.
Tựa do BBT VĐPP đề

Kính dâng Linh Giác Cụ Ông Pháp Danh Nguyên Tánh.
“Lên non học đá tham thiền
Khơi nguồn tuệ uyển biết mình là ai?
Ta về biển, học tình yêu của sóng,
Người từ đâu, xin chở hạt chân như”!
Ở đời, sinh ký 60 năm giữa chốn hồng trần là chuyện vòng quanh một kiếp người, còn là sự trăn trở của muôn triệu người muốn hàm dưỡng, cho đến khi sinh tử đến bên ta một tháng ngày.
Cụ Ông! Tôi biết tới Người vào sáng gió xuân, trời cao, mây trắng và hương tết Tân Mão, vẫn còn nồng ấm trong chiếc cụi và ngăn tủ thờ đầy khói hương của căn nhà bên vách cồn cát, trước nhà còn có những con đò đang thả hồn trên bến nước Tam Giang. Sân trước, vườn sau Người trồng những vồn cải xanh rờn và hàng hoa Vạn thọ nở rộ màu huỳnh y. Đời sống Người cũng gần giống loài hoa Vạn thọ, luôn luôn hiếu kỳ, thanh bạch và thanh thản tự nhiên. Vạn thọ không bon chen, ích kỷ mà biết hy sinh và tận tâm chăm sóc các thế hệ tiếp nối. Trải qua biết bao biến thiên, thăng trầm thế nhưng Người vẫn vững tay lái. Vượt ngàn sông mê thách thức của thế gian, Người một lòng biết giữ mình, giữ đạo, giữ vai trò người lái đò, để chống chọi mọi cuộc phôi trần đổi thay khó nhọc. Hơn chín mươi tuổi, cái tuổi hơn Cổ thập lai hy, sương sáng gió chiều. Với Người, với thánh tâm cao thượng, Người đọng lại từng giọt nắng chiều trên Bến đò Cà Cút, Người lưu lại dấu chân nơi bãi biển Quảng Công vô vàn kỷ vật tình người. Tình vạn thọ ở đâu đó xin nở muôn ngàn cánh hạt, đợi sẵn chở Người qua sông Ái hà đến nơi có mấy triệu vì sao, vô số cõi ngân hà Lạc quốc.
Trăm nghìn lời xưng tụng công hạnh, sự nghiệp, ánh dương Đạo của Người biết mấy cho đầy vơi, chút tình trong muôn một ấy! Qua chuyến về thiêng cổ.
“Mất sau hút bóng thiên đàng
Một khung trời nhỏ lá vàng chợt rơi
Người ngồi giữa cuộc đổi thay
Nghe sông núi cạn phút giây vô thường”.
Vào những ngày đầu xuân, ban thị giả Cổ Pháp Sài Gòn, Huế, thầy Pháp Mãn, Pháp Bảo, Phật tử Nguyên Niệm đã trở về quê hương của Người để khánh tuế và vấn an sức khỏe. Như mỗi mùa tết, gốc Anh đào trước hiên nhà luôn trỗ hoa, khai lộc sum xuê, tỏa hương diều dịu của buổi đầu giao thời nhưng không hiểu tại sao, cây đào năm nay chỉ ra đúng chỉ một đóa dưới cổ mộc. Cánh hoa cũng lạ hơn bao giờ hết? Người nói quá cô quạnh và tủi hờn cho Mùa xuân!
Thật vậy, cánh cửa độc môn sinh tử “ Hoa nở ta về…” chính người đã cảm nhận và chắp tay đón lấy chiếc áo mới, bỏ lại tứ đại vô sắc nơi biển nghiệp mênh mông này ấy thôi. “Thầy con” thân tử của Người cũng thường hay chia sẻ: “ Buồn chi Ôn hè, cái chi rồi cũng để lại cho cuộc đời, mình chỉ mang theo những gì như trước đây Phật dạy, Phật làm mà thôi! Trời rồi cũng bỏ được, mất, thành bại, tổ tiên rồi cũng xa lìa ngũ uẩn. Còn bởi nhân thế này muốn tồn tại cái mà người ta ưa quá nên cứ đắm chìm trong luân hồi nghiệp đạo mãi thôi Ôn hè?”
Ôn đáp lời, “thân có vay, có trả. Đã sinh ra tức đã mang rất nhiều ân nặng, nghĩa tình nhưng Niệm câu Nam Mô A Di Đà Phật là tan biến hết phải không Thầy?”. hoa Vạn thọ thì vẫn luôn ở bên Người, mùi hương của chúng thì thơm ngát, thoang thoảng như hương trầm mới xông ướp, còn Hoa Anh đào, cái cây mà Người trồng cũng bỏ xa hơn 60 năm đất trời. Thế nhưng cây vẫn thẳng đứng bất động giữa dòng đời giông tố biến động. Như Người vậy, lúc nào cũng từ tốn, biết mình, biết ta và nhìn thấy luôn cả thời cuộc để mà sống còn với bản thể “ Nhân- Lễ- Nghĩa- Trí- Tín”. Dòng sông có bao giờ trở lại vì vốn dĩ đời người thì có đến có đi. Người cũng cần mẫn với bóng chiều tà hay thủy triều lên xuống bất như ý. Ở độ tuổi như Người mà lúc nào cũng còn nhớ hai chữ Vô Thường tự tại bên ngực ái. Người luôn luôn khởi nguyện, thắp sáng con đường tịnh độ hiện tiền và tịnh độ tha lực ngay trong cuộc sống thường ngày để thăng hoa đời sau và vô lượng kiếp mà Người sẽ kết duyên bạn lữ ở mười phương Chư Phật.
Người rồi cũng thế, ta rồi cũng thế mà cả trần gian này rồi cũng thế. Xin kính thưa Người !...
Huế, sen nở mùa hạ
10.06.2011
T. Pháp Bảo

Làng Mai hợp tác giáo dục Phật học với VĐH Hoàng gia Thái MCU
Vào lúc 4 giờ chiều ngày 26.3.2011, đã diễn ra buổi Lễ trao bằng Tiến sĩ Danh dự cho Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Lễ ký kết Hiệp ước Hợp tác Giáo dục giữa Viện đại học Hoàng gia Thái - Mahachulalongkornrajavidyalaya University (MCU) và Làng Mai tại hội trường lớn của Viện.
Buổi lễ diễn ra trong thời gian khóa tu có chủ đề là: Để hiểu rõ sự vận hành của tâm (Understanding our Mind) do Tăng thân Làng Mai kết hợp với Tăng thân cư sĩ Thái Lan cùng tổ chức dưới sự bảo trợ của MCU.
Người ta thấy trên khán đài lớn: một bên là Hòa thượng, Giáo sư tiến sĩ Phra Dharmakosajarn Viện trưởng MCU dẫn đầu chư Tôn Đức, Giáo sư Hội đồng Viện, bên kia là Hòa thượng Thích Nhất Hạnh cùng chư tăng, ni thuộc Hội đồng Giáo thọ của Tăng đoàn Quốc tế Làng Mai có mặt trong chuyến hoằng pháp Đông Á Mùa Xuân 2011 mà chặng đầu là Vương quốc Thái.
Mở đầu buổi Lễ là phần giới thiệu hình ảnh sinh hoạt của Làng Mai và Mahachulalongkornrajavidyalaya University. Kế đến là phần tụng kinh khai mạc buổi lễ. Chư vị Tôn Túc, và các vị Giảng sư của Viện tụng kinh bằng tiếng Pali đầy thiền vị. Tiếp theo là Tăng thân Làng Mai tụng kinh bằng tiếng Anh với sự tham gia của bốn Chúng nên âm vang lời kinh rất thanh thoát và hùng tráng.
Được biết Mahachulalongkornrajavidyalaya University là trường Đại Học do vua Chulalongkorn còn được gọi là Rama V thành lập vào năm 1887. Đó cũng là lý do để tên của trường cũng là tên của vị vua sáng lập ra nó.
Hiện MCU được đặt dưới sự bảo trợ của Chính phủ Hoàng gia trong mục đích nâng cao kiến thức Phật học cho các tu sĩ và cư sĩ có nhu cầu nghiên cứu và tìm hiểu sâu về đạo Phật.
Chương trình đào tạo gồm 3 ngành chính là Pali, Phật học và Triết học. Ngoài ra còn có những phân khoa về Xã Hội học, Nhân Văn học, v.v....
Ngoài trường mẹ ở Bangkok, MCU còn có 15 campus tại các tỉnh : Nong Khai, Nakhon Si Thammarat, Chiang Mai, Khon Kaen, Nakhon Ratchasima, Ubon Ratchathani, Phrae, Surin, Phayao, Nakhon Pathom, Loei, Nakhon Phanom, Nakhon Sawan, Lamphun, và Phitsanulok.
MCU cũng là Chủ tọa đoàn Thư ký Hiệp hội các trường Đại học Phật giáo Thế giới, và là đơn vị chủ chốt tổ chức Liên Hiệp Quốc Kỷ Niệm Đại Lễ Phật Đản (VESAK) hàng năm.
Sau phần nghi lễ khai mạc là diễn văn chào mừng của Hòa thượng Viện trưởng đại diện cho toàn Viện chào mừng Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Tăng đoàn Làng Mai.
Ngài nhấn mạnh rằng: “Chúng tôi đã học từ Thiền Sư là thiền không thể tách rời trong cuộc sống hàng ngày. Chúng ta thường hay nghĩ rằng thiền chỉ có trong chùa hay thiền đường, chứ không có trong rửa chén, nấu cơm…
Chúng tôi thán phục Ngài vì Ngài đã đi ngang qua chiến tranh Việt Nam với nhiều khổ đau, bạo động dữ dằn mà vẫn giữ được lòng từ bi.
Chúng tôi cũng rất ấn tượng khi thấy pháp môn Làng Mai thích hợp với tuổi trẻ. Đã giúp tuổi trẻ biết được hướng đi. Chúng ta cũng biết hiện nay nhóm người trẻ “Wake up (Tỉnh dậy đi các bạn trẻ ơi!)” đã được thành lập khắp mọi nơi trên thế giới, ở các nước phương Tây cũng như các nước ở Đông Nam Á và vì thế, toàn thể Viện đại học Hoàng gia xin được hiến tặng Văn bằng Tiến sĩ Danh dự cho Thiền Sư.
Và cũng xin làm Đại diện Viện Đại Học này ký Hiệp ước Hợp tác với Làng Mai với Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu và Thiền sư Thích Nhất Hạnh”.

Bằng tất cả sự khiêm cung Thiền Sư đáp lời rằng: “Chúng tôi cám ơn rất nhiều tình thương của quý vị. Chúng tôi nguyện thực tập để không phản bội tình thương ấy… Chúng tôi đã đem đạo Bụt đi vào cuộc đời. Đã đào tạo được nhiều Giáo thọ giỏi trong giới tu sĩ cũng như cư sĩ. Đã áp dụng khoa học, toán học, vật lý học trong sự thực tập của đạo Bụt, để:
- Thứ nhứt là: Làm sao có thể áp dụng được những gì học ở trường Phật học vào trong đời sống hàng ngày.
- Thứ hai là: Đào tạo những người tu sĩ và cư sĩ có thể làm việc chung với nhau như một Tăng thân, và có khả năng phát triển tình huynh đệ. Không đi, không tạo một chỗ đứng nổi bậc như một cá nhân mà luôn đi với nhau như một Tăng thân làm thành năng lượng hùng hậu của tập thể.
- Thứ ba là: Quán chiếu những kiến thức khoa học mới để thấy tuệ giác của Bụt vẫn đáp ứng được với những khám phá đương thời và đề nghị các khoa học gia nên thực tập nghiên cứu trong tinh thần Bất Nhị để có thể đi xa hơn trong công trình khảo cứu".
Tiếp theo Hòa thượng Phó Viện trưởng tuyên đọc tiểu sử của Thiền sư Thích Nhất Hạnh với khá nhiều chi tiết khen tặng và nhiều Văn bằng Tiến sĩ Danh dự của các Viện đại học danh tiếng trên thế giới trao tặng đã làm Thiền Sư khiêm cung nói rằng: Một trong những biệt hiệu mà Thiền Sư thích là “Ông Thầy làm biếng”.
Nhân cơ hội Thiền Sư đã giới thiệu về truyền thống Ngày Làm Biếng ở Làng Mai để mọi người thấy công hiệu của sự thảnh thơi khi giảm bớt công việc, làm từng việc trong chánh niệm và có được cái thấy thâm sâu”.
Sau cùng là phần ký kết Hiệp ước Hợp tác, và trao quà, cùng chụp hình lưu niệm giữa đôi bên. Cả Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Hòa thượng Viện trưởng MCU đều biểu lộ nét hoan hỷ.
Buổi lễ diễn ra trong không khí trang nghiêm và đầy xúc cảm. Một sự kết hợp thật hài hòa giữa hai truyền thống Bắc Tông (Mahayana) và Nam Tông (Theravada).
Chương trình Hợp tác Giáo dục Phật học Ứng dụng:
Để cụ thể hóa chương trình Hợp tác Giáo dục giữa Viện đại học Mahachulalongkornrajavidyalaya và Làng Mai như hai đơn vị Giáo Dục Phật Học Ứng Dụng.
Vào lúc 18 giờ 30 ngày Mồng Một tháng Tư năm 2011 Mười bảy vị chức sắc của Hội đồng Viện MCU đã có cuộc họp với Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Ban Giáo Thọ Làng Mai Quốc Tế để đi sâu vào chi tiết sự hợp tác.
Phía Hội đồng Viện MCU mở lời mong muốn Thiền Sư cố gắng đến MCU mỗi năm ít nhất là hai lần ! Quý ngài thưa rằng: Đó là mong muốn của MCU nhưng cũng còn tuỳ ở sức khỏe và lòng từ bi của Thiền Sư. Các vị cũng đặt nhiều câu hỏi về sự thực tập, v.v.... Thiền Sư đã đáp lời với tất cả tấm lòng và tình thương. Sau đó hai bên đã đúc kết ra 5 điểm tương thuận làm căn bản cho Chương trình Hợp tác Giáo dục Phật học Ứng dụng như sau:
1. Sẽ có khóa tu cho người trẻ tuổi từ 17 đến 35 thuộc các vùng miền và quốc gia như: Thái Lan, Việt Nam, Mã Lai Á, Indonesia, Hong Kong, Trung quốc, Hàn quốc, Nhật Bản... Âu Châu và Mỹ Châu. Mỗi năm ít nhất một lần tại Thái Lan do hai bên hợp tác tổ chức. Phía Làng Mai thì do nhóm Wake Up của Làng trên toàn cầu chịu trách nhiệm. Ngày giờ thực hiện do MCU chọn lựa thời điểm thích hợp để người trẻ của nhiều nuớc có đủ điều kiện tham dự đông đảo nhứt.
2. Sẽ đào tạo trong vòng hai năm cho văn bằng Thạc Sĩ Phật Học Ứng Dụng cho những ai đã có bằng Cử nhân của các Phân Khoa các Viện khác hay Thạc Sĩ, Tiến Sĩ Phật Học các trung tâm Phật Giáo khác. Đây là Phật Giáo Ứng Dụng chứ không phải Kiến Thức Phật Học. Sinh viên sẽ được trường trai và giữ phạm hạnh trong vòng hai năm thực tập. Khi về thăm gia đình phải có thân thứ hai và thứ ba đi theo để giữ nghiêm minh cách ăn uống nói năng làm việc trong chánh niệm.
3. Nhận thấy cách đào tạo tu sĩ ngắn hạn theo truyền thống Thái có nhiều lợi lạc, Thiền Sư đề nghị và đã được MCU hưởng ứng nồng nhiệt là: Sẽ đào tạo người trẻ từ 17 đến 35 tuổi đi tu trong vòng năm năm thôi, không hứa trọn đời. Nam hay Bắc tông tùy sự chọn lựa của họ.
Sau thời hạn năm năm tu học, nếu cảm thấy có được nhiều niềm vui, có tình huynh đệ gắn bó, biết cách làm việc phụng sự chung với chị em anh em đồng tu thì có thể quyết định đi tu suốt đời.
Nếu ai có nhu yếu trở về đời sống cư sĩ thì cần được đào tạo thêm vài khóa để có khả năng làm Giáo thọ cho Cư sĩ. Sự đào tạo này sẽ bắt đầu ở các Tu viện thuộc Làng Mai ở Thái, Âu Châu và Mỹ Châu. Và sẽ bắt đầu ở MCU khi chư Tôn Đức đã sẳng sàng có chỗ lưu trú cho chừng 30 xuất sĩ thường trú và tu tập quanh năm.
4. Đào tạo Giáo thọ cho nhau hai Phân Ban Giáo Dục của đôi bên sẽ lập chương trình đào tạo Giáo thọ cho nhau về phương pháp thiền tập của mỗi truyền thống.
5. Sẽ có một văn phòng thường trực của Làng Mai tại Viện MCU. Văn phòng sẽ phát triển nhanh trước và sau các khóa tu.
Buổi làm việc rất thành công và kết thúc trong sự hoan hỷ của chư Tôn Đức của đôi bên. Khoảng 100 người trẻ có mặt trong khóa tu là nhóm trẻ đầu tiên biết được tin này đã rất hân hoan chờ đợi Thông cáo Chiêu sinh của MCU và Làng Mai cũng như EIAB để có thể bắt đầu ghi danh. Nhất là mong đợi được tham dự Khóa tu "Wake Up" dành riêng cho người trẻ toàn thế giới.
Vân Thủy, ghi từ Bangkok.


Kính gửi phụ huynh các đoàn sinh Gia Ðình Phật Tử

Kính thưa quý vị
Gia Ðình Phật Tử là một tổ chức nuôi dưỡng và giáo dục thanh thiếu niên theo tinh thần và đường hướng Phật Giáo. Các huynh trưởng của GÐPT đã được huấn luyện và đào tạo để hướng dẫn các đoàn sinh sống theo nếp sống hiếu thuận, từ hòa, hiểu biết và thương yêu của truyền thống đạo Phật.
Học đường và xã hội ngày nay có quá nhiều chất liệu cám dỗ, bạo động, căm thù, nghi kỵ và thèm khát. Các bậc phụ huynh vì lo sợ con em bị nhiễm độc bởi những chất liệu ấy đã thao thức muốn con em mình được nương tựa vào một nếp sống tâm linh để được bảo vệ và nuôi dưỡng bằng những chất liệu lành mạnh của nền đạo lý dân tộc, nên đã muốn gửi con em vào GÐPT. Các huynh trưởng của GÐPT tuy đạo hạnh và tài năng chưa hoàn hảo nhưng ai cũng đang được huấn luyện và tu học liên tục để càng ngày càng có khả năng bảo vệ trị liệu và nuôi dưỡng đoàn sinh của mình. Huynh trưởng GÐPT cố tâm thực tập cho bản thân và cho gia đình mình, bồi đắp chất liệu hòa thuận, tin yêu và hạnh phúc trong gia đình mình trong khi dạy dỗ và hướng dẫn các em tại đoàn quán để rồi các em cũng học được những phương thức ấy mà làm tăng tiến chất liệu hòa thuận, tin yêu và hạnh phúc trong gia đình các em.
Quý vị Phụ huynh nào đã gửi con em cho tổ chức GÐPT thì xin yễm trợ cho đoàn và cho con em mình trong việc áp dụng những phép thực tập ấy trong gia đình mình. Nếu phụ huynh thực tập năm giới vững vàng, cố gắng dành thì giờ để tham dự vào những buổi sinh hoạt tụng giới và những ngày quán niệm do GÐPT tổ chức và cộng tác với các em trong việc tổ chức tu học tại nhà, thì đó là một yểm trợ rất lớn cho GÐPT, và có thế thì các huynh trưởng của GÐPT mới làm tròn được bổn phận nuôi dưỡng và bảo vệ các em trong môi trường rất xấu của xã hội hiện tại.
Các huynh trưởng của GÐPT mong mỏi quý vị phụ huynh cùng đi với các em trên con đường tu học, bởi vì nếu không có quý vị tán đồng và yểm trợ thì chúng tôi không thể làm tròn được sứ mạng mà quý vị giao phó.
Mỗi đoàn sinh có thể có những khổ đau và khó khăn tại học đường, trong gia đình và ngoài xã hội. Chúng tôi mong được cộng tác với quý phụ huynh để nhận diện được những khổ đau và khó khăn ấy của các em mà tìm ra những biện pháp hữu hiệu để giúp đỡ và gỡ rối cho các em.
GÐPT rất cần đến sự lưu tâm và yểm trợ của liệt vị.
Thích Nhất Hạnh


Bàn tay từ ái
Có những lúc ta rơi vào vũng lầy đau khổ tuyệt vọng, hay bối rối hoang mang trước khúc quanh của cuộc đời, thật không có chi bằng khi có một cánh tay tình thương đưa tới cho ta tựa vào và truyền thêm sức mạnh, để vết thương trong ta được xoa dịu, để nguồn sống trong ta được đánh thức và giúp ta vượt qua những đoạn đường nghiệt ngã.
Bàn tay ấy tuy không phải là phép màu, nhưng nó có chứa chất liệu của tình thương, nó có mặt một cách một cách kịp thời và hợp lý để xâu kết những điều kiện có sẵn của một sức sống tiềm tàng trong ta bừng dậy. Đó là bàn tay nâng đỡ mà ai cũng cần ít nhất vài lần trong đời, vì sống trong đời sống này có mấy ai luôn mỉm cười thanh thản trước những thay đổi bất chợt?
Khi em ngã thì anh nâng, khi anh ngã thì em nâng, nếu em và anh có liên hệ có tình thương và có sẵn một khả năng để nâng đỡ. Dù đó chỉ là một hành động lắng nghe chăm chú, một lời động viên an ủi, hay một thái độ bao dung tha thứ cũng có thể làm cho tình trạng của kẻ trong cơn nguy khốn được lành lặn và chuyển hóa.
Ta không thể nói ta không cần ai hết, bởi ta không thể đi một mình trong cuộc đời này. Vậy mà có những lúc vì tự ái, vì muốn khẳng định mình, vì thiếu chín chắn, ta đã dại dột tuyên bố những điều hết sức nông cạn như vậy. Nhưng sự thật ta chưa bao giờ ngưng tiếp nhận niềm tin yêu từ những người thân, ta chưa bao giờ sống được mà không có sự nâng đỡ của đất trời hay vạn vật chung quanh, dù có khi sự nâng đỡ đó được thể hiện trong vô tướng.
Vậy nên những khi ta đang vững vàng thì hãy nhìn chung quanh mình, nhìn xuống thật gần để xem có ai đang cần tới bàn tay nâng đỡ của mình không? Đó là cái nhìn của một người trải nghiệm, đã từng thấm thía nỗi đau tột cùng khi không kịp lấy lại sức vì vấp ngã. Đó là cái nhìn của một người hiểu biết, nắm vững được nguyên tắc điều hợp vũ trụ: có cái này nên mới có cái kia, nếu cái kia tàn hoại thì cái này cũng bị lãnh đủ.
Tuy ta đưa cánh tay đến để nâng đỡ đối tượng kia, nhưng kỳ thực là ta cũng đang nâng đỡ chính mình. Tuy ta đang tạo ra những năng lượng an lành để bảo vệ mầm sống chung quanh, nhưng đích thực là ta đang bảo vệ đời sống của chính mình. Vì vậy cánh tay nâng đỡ đó phải là cánh tay của từ ái, của tình thương không điều kiện hoặc rất ít những điều kiện.
Mà tại sao ta muốn người kia phải làm cái gì đó cho ta thì ta mới chịu cứu giúp, trong khi ta đã thấy rõ tình trạng khốn khó mà họ đang gánh chịu và con tim ta đã rung động chân thành? Họ đang đuối sức và cần ta, chứ họ không thể phục vụ gì thêm cho ta nữa.
Ta hãy giữ vững niềm rung cảm chân thành ban đầu, đừng để cho ý niệm ích kỷ toan tính chen vào, đừng để cho những lời bàn tán vô trách nhiệm làm khuynh đảo. Nếu thấy mình vẫn còn đủ năng lực thì hãy chia sớt cho người kia một phần. Phần nhận được không chỉ làm hồi sinh cho chính kẻ ấy, mà hồi sinh cho cả năng lực tâm từ trong ta nữa. Tại vì ta vốn có sẵn một trái tim thương yêu rất lớn, lớn đến mức không biên giới, nhưng nếu không có những mảnh đời trái ngang kêu cứu thì tâm từ ấy sẽ không thoát thai được.
Thái độ nâng đỡ
Trong liên hệ thương yêu, không phải lúc nào người kia cũng cần ta mang thêm thứ gì lớn lao cho họ, cái họ cần đôi khi chỉ là sự có mặt đích thực của ta. Ta nói ta thương họ mà cứ đi biền biệt hoài, chỉ biết điện thoại hay gửi tin nhắn hay những lần gặp gỡ vội thì người kia trở nên héo tàn là phải.
Ta phải có mặt bằng cả con người của mình, cả thân lẫn tâm, một sự có mặt đầy vững chãi và thảnh thơi để cho người kia thấy được sự hết lòng của mình và cả giá trị của họ trong mắt mình. Cho nên lâu lâu ta cũng nên dành trọn một buổi hay một ngày để ngồi chơi với người thân, dù không phải làm điều gì đặc biệt, chỉ im lặng mỉm cười hoặc tưới tẩm những hạt giống hạnh phúc trong tâm người ấy bằng những lời lẽ chân thành sâu sắc là ta đã tặng cho họ món quà rất lớn rồi.
Cuộc sống bận rộn quay cuồng nên ta dần đánh mất thói quen công nhận hay khen tặng người khác, dù họ rất xứng đáng. Trái lại, vì ta đã bỏ ra quá nhiều năng lực và cảm xúc cho việc tích góp danh vọng, nên lúc trở về với những người thân ta bỗng trở thành đứa bé vô trách nhiệm hay vòi vĩnh những điều hết sức ngây ngô, hoặc thậm chí ta còn dễ dàng chê trách những chuyện không đâu, gây áp lực nặng nề cho kẻ khác. Lẽ dĩ nhiên có những lúc ta cần được nâng đõ, nhưng nếu ta nghĩ là họ phải có trách nhiệm đem tới nguồn tinh thần cho ta, đổi lại ta sẽ mang thật nhiều tiện nghi vật chất về cho họ thì ta đã sai lầm. Khó có ai có thể sống vững mà không được quan tâm, không được công nhận.
Vậy nên thỉnh thoảng ta hãy hỏi người kia có gặp khó khăn gì cần ta nâng đỡ không? Sống chung với một người mà lúc nào cũng sẵn sàng mở lòng ra để nâng đỡ, lúc nào cũng có sẵn trên môi câu nói: “Có cần tôi nâng đỡ gì không?” thì hạnh phúc biết chừng nào. Ta đừng sợ nói ra thì người kia sẽ vắt kiệt năng lượng của mình.
Không đâu, ta hãy cứ thực tập đi rồi ta sẽ thấy ta đã thừa hưởng hạnh phúc ngay khi ta mở miệng nói câu ấy rồi, huống chi vẫn còn tùy ở khả năng đang có mà ta trọn quyền định liệu. Điều quan trọng là ta có thiện chí muốn chia sẻ tình thương đến mọi người, luôn muốn mọi người hạnh phúc hơn, tức là ta đã làm được điều con tim muốn ta làm.
Nhưng ta đừng vội nản lòng khi thấy mình đã hết lòng rồi mà sao người kia vẫn chưa thay đổi. Một sự chuyển hóa bao giờ cũng hội tụ rất nhiều điều kiện chứ không thể chỉ dựa vào phần đóng góp của riêng ta mà nó xảy ra được, và chưa chắc là phần đóng góp ấy có giá trị thiết thực cho người kia nữa.
Huống chi những điều kiện để tạo nên sự chuyển hóa trong người kia vẫn đang xảy ra và một số điều kiện khác xung đang trên đường đi toái, ta hãy kiên nhẫn chờ đợi và không ngừng sự nâng đỡ. Biết đâu những điều kiện sau cùng để thay đổi lại xuất phát từ chính thiện chí và tình thương của ta. Cho nên ta đã thương và muốn cứu giúp rồi thì đừng rút cánh tay lại, cũng có thể khi ta thu năng lượng che chở ấy lại thì người kia mới thật sự rơi tõm xuống vực sâu, vì niềm tin của họ đã dồn về phía ta, chỉ có ta đem tới nhân duyên ứng hợp để giúp họ thay đổi mà thôi.
Ta hãy luôn nhớ rằng tình thương mà mang theo quá nhiều điều kiện thì coi chừng ta đang thương bản thân mình chứ không phải là đang thương đối tượng kia. Đừng để hạt giống ích kỷ đáng lừa. Để trắc nghiệm ta hãy thường xuyên tự chất vấn mình nếu lỡ người kia không chịu tiếp nhận, hoặc nghi ngờ tấm lòng tốt của ta thì ta sẽ ra sao?
Nếu vì những phản ứng của họ mà ta dập tắt ngay ý niệm muốn cứu giúp là ta chứng tỏ lòng chân thành của ta đã chưa đủ lớn. Đành rằng không phải lúc nào sự giúp đỡ của ta cũng là điều kiện cần thiết cho người kia, nhưng nếu ta đã thương và muốn giúp đỡ thì hãy cứ kiên nhẫn chờ đợi đến khi họ cần. Một tấm lòng tốt sẽ không bao giờ là thừa thải. Ta hãy nâng niu lòng nhiệt tâm giúp đỡ của mình, đừng để nó bị hao mòn hoặc chai cứng, thì sau này ta sẽ khó để đặt xuống một tình thương.
Đi như một bầy chim

Cũng có khi vì thói quen sĩ diện hay tự ái quá lớn mà ta luôn có khuynh hướng che đậy những khó khăn của mình. Như ta đang rất khổ sở vì mối nghi ngờ ngày một đè nặng trong lòng nhưng lại không chịu nói ra, vì nếu nói ra sợ người kia nghĩ ta là kẻ tầm thường hay yếu đuối nên chỉ biết cắn răng chịu đựng.
Người kia gạn hỏi thì ta lại nói là không sao cả, ta đang rất ổn. Khi đã cố gắng hết sức rồi mà tinh thần vẫn rơi xuống thấp như vậy thì tại sao ta không nhờ đến sự nâng đỡ của người kia? Vậy sống với nhau để làm gì? Đôi khi chỉ cần một lời giải thích đơn giản là vấn đề đã được sáng tỏ rồi, ta sẽ không tự giam mình trong những ngày tháng u tối chỉ vì những tri giác sai lầm.
Hãy nhìn loài thiên nga mỗi khi cùng bầy di cư về miền đất ấm trước khi mùa đông đến. Chúng thường bay chung với nhau theo hình chữ V, nhịp vỗ cánh của con bay trước sẽ tiếp sức cho nhịp vỗ cánh của con bay sau, cứ thế mà chúng tiết kiệm được 70% công lực thay vì bay một mình.
Trên thức tế chưa bao giờ có con thiên nga nào dám một mình bay từ phương Bắc về phương Nam, vì đoạn đường đó có khi dài tới hàng trăm hoặc hàng nghìn dặm. Điều kỳ thú là khi con dẫn đàn thấm mệt thì nó sẽ lùi lại để con thứ hai hoán vị với mình, nó không bao giờ độc tài lãnh đạo cả. Đặc biệt hơn nữa, khi có một con thiện nga bất ngờ bị kiệt sức hay trúng thương thì nó sẽ cử hai con mạnh khỏe khác ở lại yểm trợ và cả đàn sẽ giảm tốc độ tối thiểu để chờ chúng đuổi theo. Chúng không bao giờ bỏ qua sự nâng đỡ và yêu thương đồng loại của mình.
Khi nhìn bầy thiên nga luôn đi bên nhau có thể ta sẽ rơi nước mặt. Tại vì ta rất tôn sùng chủ nghĩa cá nhân, rất thích sống biệt lập, nên không muốn ai đụng tới mình và ta cũng chẳng buồn quan tâm đến nỗi khổ niềm đau của kẻ khác.
Ngay với những người thân trong gia đình mà ta vẫn còn sống rất ơ hờ thì đừng nói chi đến hai chữ “đồng loại” lớn lao kia. Mà có lớn lao gì đâu, mình không thương được đồng loại của mình, mình không nâng đỡ được đồng bào của mình, mình không chia sớt được nỗi khổ niềm đau của dân tộc mình thì làm sao mình có thể đứng vững trong trời đất này kia chứ? Nếu có, thì đó cũng là sự vay mượn giả tạm mà cái giá phải trả cũng sẽ rất đắt.
Biển đời mênh mông vô tận, trong lòng nó luôn chứa những đợt sóng ngầm, nó sẽ sẵn sàng kéo con thuyền ra xa và nhẫn chìm bất kỳ lúc nào nếu ta không kịp tỉnh táo và đủ sức để đối phó.
Vậy nên ta hãy đi với nhau như một bầy chim, hãy cùng những người thân siết chặt tay nhau để đủ sức vươn lên những cánh buồm lớn cho con thuyền lướt nhanh tới phía trước. Ta đừng kẹt vào tài năng hay sự may mắn rồi tự ban cho mình một vị trí quá lớn mà trở nên khó khăn để hòa nhập với mọi người chung quanh. Đó là một thiệt thòi rất lớn, vì sức mạnh của đoàn thể bao giờ cũng có tính chất chở che và soi sáng.
Ta không nhất thiết phải làm thuyền trưởng thì ta mới có thể tham sự trên con thuyền vượt khơi. Mỗi vị thủy thủ chỉ cần tự biết được trách nhiệm của mình và sẵn sàng hoán vị với người khác khi cần thiết để mình kịp thời lấy lại phong độ mà ứng phó với những đợt sóng vô tình phía trước là được. Hãy đi bên nhau để có cơ hội va chạm, để buông bỏ bớt lòng cố chấp, để tập nhường nhịn và hòa điệu với nhau. Đó là những yếu tố quan trọng làm nên bản lĩnh và thành công của con người.
Ta hãy sống đời sống của một con người có hiểu biết và thương yêu, hãy chấp nhận nhau như những con thiên nga chấp nhận đồng loại của mình. Đừng vì nhu yếu hưởng thụ quá lớn, đừng vì cái tôi hẹp hòi bé nhỏ, để lúc nào ta cũng xây dựng trong lòng ngục thất của nghi ngờ, lo lăng và sợ hãi khi tiếp xúc với người khác.
Còn đi chung đường với nhau, còn nhìn nhau tận mặt và sẵn sàng lên tiếng khi cần nhau hay hết lòng nâng đỡ nhau là ta đang giữ được thiêng chức của một sinh linh mầu nhiệm rồi. Hãy giữ lấy con đường ấy, vì đó chính là con đường đưa tới hạnh phúc chân thật!
Đi như một bầy chim
Vượt vùng trời băng giá
Đừng một mình ra khơi
Biển đời nhiều sóng cả.
Thích Minh Niệm


Trước khi phát tâm tu học, con người cứ tưởng Phật pháp chỉ ở trong kinh điển, chỉ ở nơi niết bàn, hay ở cõi Phật và chỉ dành cho các nhà sư trong chùa chiền, tự viện.
Không ngờ Phật pháp ở khắp thế gian. Phật pháp ở tại thế gian. Sống trong thế gian, nhận được Phật pháp, đó mới là niềm an lạc và hạnh phúc chân thật nhất.
Hạnh phúc không có ở bên ngoài, không có ở địa phương nào, không có ở thành phố lớn hay thị xã nhỏ, dù nơi đó giàu sang hay đang phát triển, không có ở Việt Nam, không có ở Hoa kỳ, Canada, Âu châu hay Úc châu.
Hạnh phúc không có trong nhà, không có trong chợ, không có trong chùa.
Hạnh phúc ở trong tâm của mỗi người. Khi thân tâm an lạc, con người hưởng được hạnh phúc chân thật. Đó chính là niềm mơ ước của con người. Đó chính là câu chúc nhau chân thật nhất, trang nghiêm nhất. Chúc các bạn thân tâm an lạc.
Khi nào thân của con người được bình an?
Thân của con người được bình an là khi con người đang hưởng phước.
Nghĩa là: con người đầy đủ mắt tai mũi lưỡi, tứ chi lành lặn, không bệnh tật, được ăn no, mặc ấm, sống nơi an ninh, không gặp bất trắc, hiểm nguy.
Khi nào tâm của con người được hỷ lạc?
Tâm của con người được hỷ lạc là khi con người đang hưởng phước. Nghĩa là: con người được an nhiên tự tại trong cuộc sống, không bị sợ hãi bởi các lời hăm he, hù dọa, gạt gẫm của các tà sư, không lạc vào tà đạo, mê tín dị đoan, không bị tà kiến trói buộc, tà pháp sai sử. Tâm của con người được hỷ lạc nhất là khi con người sống đời tri túc, biết đủ, tri nhàn, biết thư giản, không còn tâm tham lam, sân hận và si mê. (Bấm đọc thêm ) Thân được bình an, tâm được hỷ lạc, không do lời cầu nguyện, hay chúc tụng, không do ơn trên, thánh thần thiên địa ban cho. Bởi lẽ, tại sao trời lại ban cho người này, không ban cho người kia, không ban cho tất cả mọi người? Thực ra, thân tâm an lạc có được, chính là phước báu, là công đức và phước đức, tạo nên do sự tu tâm dưỡng tánh của chính bản thân.

Có sáu phương cách để tạo nên phước báu, đó là: bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Trong kinh sách, gọi đó là Lục Độ Ba La Mật.
Thực hành bố thí, tâm con người hoan hỷ, bớt tham lam, ích kỷ, nhỏ nhen. Phước báu vô lượng.
Thực hành trì giới, 5 giới căn bản, 10 giới thiện, 250 hay 348 giới xuất gia, tâm con người bớt loạn động, được an tịnh, nhứt tâm. Phước báu vô lượng.
Thực hành nhẫn nhịn, nhẫn mà không thấy nhục, nhịn mà không thấy thiệt, tâm con người từ bi hơn, khoan dung, độ lượng hơn. Phước báu vô lượng.
Thực hành tinh tấn, làm việc phước thiện, cứu người giúp đời không mệt mỏi, tâm con người an vui hơn khi thấy người khác an vui. Phước báu vô lượng.
Thực hành thiền định, tức giữ được sự bình tĩnh thản nhiên trong cuộc sống, tâm con người dễ dàng hỷ xả, không sân hận, không kích động; hành động, lời nói và ý nghĩ thảy đều thanh tịnh. Phước báu vô lượng.
Thực hành trí tuệ là bước cuối cùng, tâm con người sáng suốt, giác ngộ chân lý, giải thoát phiền não khổ đau trong sanh tử luân hồi. Đây chính là cứu cánh tột cùng của đạo Phật. Phước báu vô lượng.
Phước báu vô lượng tức là hạnh phúc vô biên.
*
Sách có câu:
Thứ nhứt thì tu tại gia,
Thứ nhì tu chợ,
thứ ba tu chùa.

Người tu tại gia thực hành lục độ, tất được phước báu, rốt ráo sẽ được thân an tâm lạc, đó không còn là lời chúc tụng suông nữa. Đó chính là sự thực.
Người tu tại gia, cũng phải ra chợ, tiếp xúc với đời, không tránh khỏi. Người tu tại chợ thực hành lục độ, cũng được thân an, tâm lạc, không nghi. Đó chính là sự thực.
Người tu tại gia có lúc đến chùa, hoặc phát tâm xuất gia, thực hành lục độ, nhất định được thân an tâm lạc. Đó chính là sự thực.
Tất cả đều do tâm tạo. Tâm tạo được an lạc hạnh phúc, nếu trong cuộc sống, con người biết thực hành lục độ. Con người đã có an lạc hạnh phúc trong tâm, dù sống bất cứ ở nơi nào trên thế gian, trong bất cứ hoàn cảnh nào, trong bất cứ thời đại nào, cũng cảm nhận được thân tâm an lạc.
Ngược lại, tâm tánh xấu xa, ích kỷ, nhỏ nhen, ganh tị, đố kỵ, hiềm khích, thù hận, cuồng tín, dù sống tại gia, tại chợ hay tại chùa, dù sống bất cứ nơi nào trên trái đất, con người cũng cảm thấy phiền não và khổ đau, không sao tránh khỏi.
Tóm lại, con người biết tu tập, nên quán xét tâm tánh chính mình, cố gắng tu tâm dưỡng tánh. Khi tâm tánh con người sáng suốt, chân chánh và thanh tịnh, không cần lập nguyện, cũng được vãng sanh tịnh độ. Sống hạnh phúc, chết bình an. Nhất thiết duy tâm tạo, chính là nghĩa đó vậy. []
Suốt đời tìm khắp đông tây
Ai hay hạnh phúc ở ngay tâm mình
Thích-Chân-Tuệ
Phật-Học Tịnh-Quang Canada

Bài tường thuật.
(Từ ngày 12 – 20.12 năm 2010 )
Ban thị giả Thư Viện Cổ Pháp vô cùng bất ngờ và rưng rưng nước mắt khi nghe Thầy có chuyến đi thăm Ấn Độ, “ xứ sở được mệnh danh vùng đất vàng chánh pháp”. Như mọi khi, lịch thời gian giảng dạy, hóa duyên của Thầy, chúng tôi thường được biết trước. Tuy vậy, đối với lần hành hương ‘ đường về xứ Phật’ này, thì mọi người không thể không xúc động khi nghe tin. Nhân đây ban thị giả xin ghi lại vài chi tiết về những chặng đường Thầy đã đến trên quê hương đất Phật.
Có lần Thầy chia sẻ “biết khi nào mình đến Đất Phật đích thực các con nhỉ !”. Ước mơ của mọi người con Phật lần này đã trở thành sự thật với Thầy. Visa do Đại sứ Ấn Độ thỉnh mời. Chuyến đi này được Ông Thư Ký, đại diện cho ủy ban UNESCO tại Bồ Đề Đạo Tràng, bảo trợ để thực hiện công tác dựng Tôn tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, tọa lạc ngay khuôn viên thánh tích Bodhgaya. Tượng cao gần hai mét, Ngài mang pháp thân người Việt Nam do các gia đình Phật tử, Sư Cô Thích nữ Diệu Đáo tại Hoa Kỳ phát tâm tôn tạo và các nghệ nhân Non Nước - Quảng Nam điêu khắc.
Tháp tùng cùng đi với Hòa Thượng Thanh Liêm ( Chùa Từ Hóa), Hòa Thượng Thái Hòa ( Chùa Phước Duyên- Huế) gồm có Ni sư Minh Tánh, Ni Sư Như Huy, đại đức Hồng Nghĩa, Hạnh Trí, Vĩnh Tánh, Thiện Tuệ, Tâm Độ, Thiện Bửu, Trung Tuệ. Ngoài ra, còn có cả ban nhạc cung đình Huế : gồm anh Cư, Huế, Xuân và Anh Mừng ( làm phim), anh Sáu, cô Lan, cô Dung, cô Hiền, anh Minh và 15 vị khác bay từ Hà Nội, trong đó có Thầy Hải Hòa.
Vào ngày 11 tháng 12 Thầy rời Việt Nam đến Bangkok. Lần này Thầy được tận mắt chứng kiến không gian Mekong và cảnh sinh hoạt của người dân Thái, một vùng đất thấm nhuần giáo pháp, mọi người luôn giữ gìn nếp sống khiêm cung, thể hiện qua những cử chỉ chắp tay chào nhau, từng bước đi của họ rất an lành và có niềm tin với những gì mà họ đang thực hành qua lời Phật dạy.
Vì từ lâu Thầy đã nghiên cứu cách hành đạo của Tăng Già mỗi nước, nhưng lần đầu đến với Thái Lan, Thầy đã tận dụng mọi thời gian để cảm nhận về một nước Phật thứ hai dọc theo dòng sông huyền bí.
Ngày 12 tháng 12, phái đoàn khởi hành từ Thailand đến India. Bước từ trên máy bay xuống, Thầy luôn cẩn trọng, khoan thai và lặng lẽ, toát lên ý nghĩa của một cuộc trở về đầy tính đại thừa. Có lẽ trước khi Thầy chuẩn bị lên đường là Thầy đã ấp ủ về những dấu ấn của đại sư Huyền Trang (599-664) đến đây vào năm 629. Ý thức tầm quan trọng của chuyến chiêm bái nên Thầy đã hết lòng đem cả trái tim của mình ra để tìm dấu tích khí thiêng từ hàng ngàn năm về trước.
Ra đón Thầy và quý Tôn túc tại phi trường về nội viện thuộc Bodh Gaya ( Bồ Đề Đạo Tràng) có Đại đức Ma-noj, Sư cô Diệu Đáo , Sư cô So-fa. Khu lưu trú cũng nằm gần cạnh Mahabodhi Temple nên thầy đã có dịp đi thiền hành một mình đến đó vào buổi tối cùng ngày. Thầy chia sẻ, “ dù sao thời hiện đại ngày nay đi đến thăm Đức Phật chỉ mấy tiếng đồng hồ bằng máy bay thôi, vì thế chúng ta nên biết dựng lại tâm ảnh của Thế Tôn qua phương pháp tiếp xúc sự nhiệm mầu”. Từ từ Thầy tiến tới cây Bồ Đề mà năm xưa Hoàng đế Asoka (A-dục vương 273 - 236 trước công nguyên) học đạo mỗi ngày với Ngài tại đây. Tháp Mahabodhi Temple, là nơi đánh dấu nơi Đức Phật thành đạo, từ đó Thế Tôn chứng nghiệm, hiểu ra thế nào khổ và con đường giải thoát, dẫn đến thánh đạo an vui. Bấy giờ Thầy mở lời, Ôi ! đấng trụ pháp vương, Ôi hoàng cung Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu), Ôi Thánh tăng Nalanda! và Thầy đã cúi lạy trước đỉnh tháp cao vời vợi của thánh địa Đồ Đề Đạo Tràng và Thầy từng bước kinh hành quay trở về với một phong thái kính cẩn. Phương pháp Thầy đảnh lễ là với tất cả lòng biết ơn trải rộng lòng tiếp nhận luồng sinh lộ mới. Sau đó Thầy vẫn lùi bước nhưng ánh mắt Thầy luôn hướng theo tòa tháp, một lãnh địa có hàng trăm bóng dáng xuất thế một thuở xưa kia.
Hôm 13/12 Hòa Thượng Thanh Liêm hướng dẫn Tăng đoàn đi viếng thăm Sarnath (Lộc Uyển). Anh Tùng, Chị Hằng ở Hoa Kỳ cùng có mặt với đoàn để trợ viên dịch thuật. Tứ chúng tới Lộc Uyển thì bầu trời dường như có sự che chở, mây trắng bao phủ quanh, thành quách nơi đây lộ lên như một con sư tử lớn. Từng phiến đá , viên gạch như một pháp khí, vì nơi đây, Đức Phật đã từng dẫm lên đi khất thực mỗi ngày vào thành Vương xá, và có thể cũng là nơi thuyết pháp cho năm vị Đạo Sĩ, anh em Kondanna (Kiều Trần Như) và dân chúng toàn cõi trở về lắng nghe chánh pháp mỗi khi Ngài thuyết kinh.
Thầy và cả đoàn ngồi an tọa tụng kinh suốt một thời khóa tụng niệm theo nghi thức bằng việt ngữ và trì biến kinh Tiếng Phạn (saṃskṛtam संस्कृतम् ). Vào khoản chiều tối mọi người cùng đi đến Sông hằng ( गंगा Ganga ) để phóng đăng và cầu nguyện. Thầy ngồi trên thuyền chăm chú dõi mắt theo từng nhánh sông nhưng các cảm thọ về cái chết của dân chúng bản địa khi nói về những xác thân tứ đại họ luôn coi là bào ảnh vô thường. Dọc theo con đường, xum quanh bờ sông là từng đống lửa đang hỏa táng người thân. Nếu mình nhìn một cách sợ hãi thì sẽ không nhìn ra lý siêu diệu của nó mà phải đón nhận bằng con mắt thiền quán, dưới sự tan rã của đất nước gió lửa trở về với vũ trụ với hư không. Trong khi có mặt tại chỗ diễn ra các nghi thức tang lễ, phần nhiều họ sử dụng kinh Ấn giáo, Bà la môn.., rất ít gặp Người Phật tử nhưng Thầy đã tụng kinh Phật giáo cho người dân bản xứ nghe, họ lắng nghe một cách thành kính và đăm chiêu lạ thường, rồi họ cũng có vài câu hỏi về Phật là ai, thực hành và sống như thế nào, khi đó Thầy tóm tắt đôi nét về một Đạo Phật tại trên đất Ấn Độ cho họ nghe qua, được một số vị học Tăng người việt thông dịch, nghe xong họ rất cảm động và thích thú về một đấng hiện thân ( toàn giác ) mà họ chưa được có cơ may học hỏi giáo pháp của Ngài.
Ngày 14/12 Phái đoàn cùng đi dâng lễ cúng dường và gặp gỡ ban quản trị Bồ Đề Đạo Tràng và có vài lời cảm ơn đến Ông thư ký, đặc trách Ban bảo tồn di sản UNESCO (Liên Hợp Quốc) tại Ấn Độ đã cho phép phái đoàn Tứ Chúng ( xuất gia, tại gia) Việt Nam dựng tượng đài Quan Thế Âm tại khuôn viên Thánh địa. Thầy và mọi người tiếp chuyện trong vài giờ với ban quản lý xong thì dâng lên vị thư ký bức tranh thêu ngôi Chùa Linh Mụ, biểu trưng cho nền tâm linh Phật giáo dân tộc Việt Nam qua ngàn năm ( 1000) văn hiến. Sau đó tất cả cùng nhau đi tới vị trí sẽ được dựng tượng hóa thân Quán Thế Âm (Avalokitesvara) và đàn tràng được Chư Tăng thiết lập để An vị Thánh tượng Ngài. Đây cũng là dịp cầu siêu chẩn tế, nguyện cầu âm siêu dương thái. Thầy sám chủ và ban kinh sư luôn miên mật gia trì kinh chú trong hai ngày ( 14 – 15 ).Trong buổi chẩn tế có rất nhiều nhà sư Tây Tạng và Phật tử ngoại quốc đến hộ niệm lễ bái. Có thể đây là nghi thức Phật giáo đại thừa An Nam được trình diễn giữa Phật quốc, để lộ lên tính hòa nhập của chánh pháp đi vào mỗi bản địa.
Vào buổi sáng, ngày 15.12, Thầy được các Phật tử báo tin, hôm nay chính là lễ nghi đăng quang ngôi vị pháp tòa của Phật giáo Tây Tạng ( 西藏佛教 ). Đi tham dự lễ đăng quang theo dòng truyền thừa của Karmapa đời thứ 17 hiện trú tại Dharmsala, Ngài được coi là nhân vật kế vị “tự nhiên” của Đức Dalai Lama. Từ bên ngoài nhìn vào, thật là một nghi lễ trang trọng và huyền bí mang màu sắc Mật giáo ( 密宗 mì-zōng ). Liền sau đó, Thầy tiếp tục đi thiền hành ngay trong vườn Bodh Gaya.
Ngày 16.12 tây lịch, Phái đoàn cùng lên đường đi thăm núi Linh Thứu, một thánh tích mà từ bấy giờ kim ngôn Đức Phật thuyết Pháp Hoa Kinh ( 妙法蓮華經 - saddharmapuṇḍarīka-sūtra ) cũng từ đó một tạng kinh đại thừa (大乘, sa. Mahāyāna ) được thiết lập cho đến tận ngày hôm nay. Tất cả đoàn cùng im lặng ngồi xuống trì kinh hoặc thưởng lãm cảnh trí từ trên cao; thiên nhiên, sỏi đá ở đây có vẻ huyền diệu, mát rượi cho những bàn chân hiền lành từ bi của người con Phật một lần về đây bên dấu chân Đức từ phụ. Trước đường lên Linh Thứu sơn là điểm đi ngang qua hang động của hai Thánh Tăng, Ngài Xá Lợi Phất và A Nan. Hòa Thượng Thanh Liêm và Thầy đã lễ bái, kinh hành ngay trong thất động, đến đây Thầy đã bậc khóc thầm lặng khi nghĩ tới một đời sống phạm hạnh “ thiểu dục tri túc” của quý Ngài, Thầy chắp tay búp sen suốt thời gian với những nơi Thầy có mặt như Tịnh Xá Trúc Lâm. Tịnh xá là nơi Đức Thế Tôn của chúng ta thiết lập nền tản Pháp an cư đầu tiên cho Tăng đoàn cũng do Tần bà sa la ( Bimbisāra ) - 558 TCN - 491 TCN) dâng cúng mảnh đất trở thành vương xá An Cư này. Tiếp theo Thầy lên xe đi thăm đại học Na Lan Đà (Nalanda) “Đại học Na Lan Đà được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ 2 trước Tây Lịch trên khu khu đất thênh thang rộng 14 mẫu, được xem là trường đại học đầu tiên và lớn nhất thế giới. Trường đại học khổng lồ này nằm ngoại ô thành Vương Xá (Rajgir) và nhiều bậc anh tài Phật giáo đã được đào tạo tại nơi này như Tổ sư Long Thọ, ngài Mã Minh, ngài Vô Trước, ngài Thế Thân, pháp sư Huyền Trang... Đặc biệt Ngài Long Thọ từng theo học và sau đó trở thành viện trưởng tại đại học này. Thời kỳ vàng son của Nalanda là từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ thứ 8. Rồi thế kỷ 12, quân Hồi Giáo xâm chiếm Ấn Độ và Đại Học Na Lan Đà không nằm ngoài mục tiêu hủy diệt của họ, 10.000 tăng sĩ đã ngã xuống một cách bi hùng dưới chiếc gươm lạnh lùng của họ vì tất cả thà chịu chết chứ không yếu hèn chấp nhận cuốn kinh Koran của ngoại đạo, máu của quý ngài đã nhuộm đỏ nền gạch và chảy thành suối trong khắp Nalanda ngày ấy. Theo truyền thuyết thư viện của Nalanda và tàng kinh các đã bị họ phóng hỏa thiêu hủy trong ba tháng trời. Hình ảnh tang thương đó dường như vẫn còn hiện hữu đâu đó khi phái đoàn bước chân vào thánh địa này, có nhiều đệ tử đã bậc khóc khi nhớ đến những cái chết bi tráng bảo vệ Chánh Pháp của quý học tăng năm xưa. Phái đoàn hành thiền Chánh niệm đã kinh hành tưởng niệm đến sự hy sinh vì đạo của quý ngài năm xưa trong niềm xúc động dâng trào. Ước nguyện đại học Na Lan Đà sẽ có ngày phục hưng trở lại để mang ánh sáng giác ngộ đến cho muôn loài”. Thầy không hết bàng hoàng khi nhìn thấy những di vật, toàn cảnh đại học bị tàn phá một cách hãi hùng còn sót lại nhưng rồi nét hùng tráng một thời Tam tạng kinh điển được hiển lộ sáng chói giữa muôn trùng sinh diệt.
Lúc khởi hành đi đến nơi khác thì Thầy cùng phái đoàn đã đến thăm nhà của vị cư sĩ Y khoa JìVaKa. Người mà suốt cả cuộc đời của mình luôn kề cận chăm sóc Tăng đoàn. Jivaka bác sĩ nổi tiếng nhất ở Ấn Độ trong thời gian của Đức Phật. Ông được kêu gọi để điều trị các vị vua và hoàng tử, bao gồm cả vua Tần Bà Sa La mình. Khi Đề Bà Đạt Đa ném xuống một tảng đá và bị thương bàn chân của Đức Phật, nó đã được Jivaka người chữa lành. Hơn thế nữa Ông còn ngăn cản việc giết mẹ của Vua A Xà Thế, tận tình hướng dẫn cho nhà vua biết quay về con đường chánh đạo nên Tần Bà Sa La mới thấu hiểu vì thế đã về nghe Phật giảng pháp, sau đó quy y với Đức Phật. Jivaka cùng với vua Tần Bà Sa La xây dựng một tu viện trong vườn xoài của mình, để dâng cúng lên Thế Tôn, thể hiện lòng kính trọng biết ơn và mỗi ngày hai anh em điều đến thọ pháp và cúng dường thực phẩm cho Tăng đoàn.
Chiều cùng ngày, Sư cô Diệu Đáo dẫn Thầy đi giới thiệu hai khu đất, nằm gần Bồ Đề Đạo Tràng, mục đích cho sau này trở thành hai trung tâm tu học cho Tăng – Ni Việt Nam, những người có nguyện vọng du học và đóng góp cho Phật giáo Ấn Độ hồi sinh:
Tu Viện Tăng tên là Cát Tường (Savastika) – Linh Mụ quốc tự
Tu Viện bên Ni có tên là Tu Xà Đề - (Sujata)
Trong lúc vừa đi thăm đất, tương lai sẽ xây dựng thì sư cô cũng đã có nhã ý muốn thỉnh Thầy làm giám viện và sau đó Thầy đã đi ngang Chùa Việt Nam tại NEPAL do Thượng Tọa Huyền Diệu làm viện chủ “cũng nhằm vào năm 1956, cố Thủ tướng Nehru đã tổ chức hội nghị thế giới tại New Delhi quy tụ các vị đại biểu của các nước theo Phật giáo để kỷ niêm 2.500 năm Đức Phật nhập diệt. Với sự kiện trọng đại này, cùng với đại biểu của các quốc gia bạn, Hòa thượng Tố Liên đã đại diện cho Phật giáo Việt Nam sang Ấn Độ tham dự hội nghị và ngài trở về phổ biến tinh thần phục hồi Phật giáo Ấn Độ của cố Thủ tướng Nehru đề xướng. Đây chính là lần đầu tiên người dân Ấn Độ mới biết Phật giáo, mới biết Đức Phật đã ra đời ở đất nước họ từ 2.500 năm qua, mới biết sự hiện hữu của một Đấng Toàn giác mà cả nhân loại phải kính ngưỡng. Và đây cũng là lần đầu tiên có một lễ quy y tập thể tổ chức tại Bồ Đề Đạo Tràng cho nửa triệu người Ấn thuộc thành phần cùng đinh được phước duyên sống theo lời dạy của Đức Phật. Và sự hồi sinh Phật giáo Ấn Độ càng trở nên mãnh liệt hơn khi Chính phủ Ấn Độ quyết định cấp đất cho các quốc gia theo Phật giáo đến xây dựng các ngôi chùa tiêu biểu cho Phật giáo của từng quốc gia tại Bồ Đề Đạo Trang. Đại diện cho Phật giáo Việt Nam là chùa Việt Nam Phật Quốc tự, do Hòa thượng Huyền Diệu xây dựng đầu tiên. Nơi này dành cho mọi người, trong đó có người dân Ấn tìm lại lời dạy quý báu của Đức Phật để áp dụng trong cuộc sống của chính họ, giúp họ thăng hoa được đời sống tâm linh và phát triển được đời sống vật chất ”.
17.12 .2010: nhị vị Hòa Thượng và Tăng Ni Việt Nam đi dự lễ Trai Tăng tại giảng đường Băng- la- đét ( Bangladesh). Thầy được Ban tổ chức ( BTC) mời ban pháp thoại “ Đức Thế Tôn của Chúng Ta” (http://thuviencophap-net.blogspot.com/2010/12/uc-ton-cua-chung-ta.html ) cho trên tám nước đến đại diện tham dự, do Sư Đức Hiền làm thông dịch. Trong quá trình buổi lễ diễn ra, ở đây chúng ta mới cảm nhận về tính phổ quát nhân văn qua hình ảnh các nền Phật giáo đang hiện hữu ngay trên quê hương Đất Phật. Đặc biệt qua lời chia sẻ ngắn gọn, đầy tinh thần xích lại gần nhau của Thầy.
Ngay sau khi kết thúc lễ hội phạm thực cúng dường thì Thầy và vài vị phụ tá tiễn chân Hòa Thượng sám chủ ra phi trường để về lại Việt Nam.
Chiều 18.12, Thầy lại có chuyến đi đến thị trấn Kushinagar cách Bodh Gaya 450 km về hướng Nam. Khoảng 22h đêm đoàn đến Chùa Kim sơn và chỉ mới đặt chân xuống khỏi xe thì Thầy đã mỉm cười và trấn an mọi người trong đoàn bằng những cử chỉ đậm tình thương Việt “ nước Nam mà cũng biểu hiện tới đây luôn tề”. Có lẽ do thời gian đi bằng xe một quãng đường khá xa, nên mọi người cảm thấy sức khỏe có phần hơi thuyên giảm. Ni sư trụ trì ra tận cổng đón đoàn. Với lòng từ bi của mình, Thầy hứa khả lời Ni sư Trí Thuận cho một thời pháp thoại vào sáng mười chín.

Thật sự đến thời gian này thì Thầy cũng có nhiều thời khóa và sự nghỉ ngơi cũng ít đi. Vào buổi sáng Thầy đã dạy thiền quán cho nội chúng, khoản 30 vị xuất gia trẻ là người bản xứ (http://thuviencophap-net.blogspot.com/2011/01/buoc-theo-chan-uc-phat.html ) . sau giờ pháp thoại Thầy lại có lịch cùng với đoàn, đi chiêm bái Thánh Tích Kushinagar nơi Đức Phật nhập niết bàn và thăm hai cây Sala, một Phật địa mà chính nơi đây đã diễn ra lễ Trà tỳ báo thân Ngài năm xưa. Ở trong thời quá khứ xa xưa, Kushinagar là một vương thành phồn hoa, dân cư đông đúc và lúc Đức Phật nhập Niết-bàn thì thành này chỉ là một thành nhỏ hoang vắng, dân cư thưa thớt, với những cánh rừng Ta-la xanh ngát. Đến gần giờ đức Thế Tôn đã xả bỏ thọ mạng thì Tôn giả Ananda đã ngấn lệ thưa rằng:
"Bạch Thế Tôn, còn có những thành lớn khác. Một là Chiêm-bà, hai là Xá-vệ, ba là Bệ-xá-ly, bốn là Vương-xá, năm là Ba-la-nại, sáu là Ca-tỳ-la-vệ. Sao Thế Tôn không nhập Niết-bàn ở các nơi ấy, mà quyết định tại thành bằng đất nhỏ hẹp này, một thành nhỏ hẹp nhất trong các thành? Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo: Này Ananda, ngươi chớ nói rằng đây là thành đất nhỏ hẹp, là thành nhỏ nhất trong các thành. Vì sao? Vì thuở quá khứ, thành Câu-thi-na này tên là Câu-thi vương thành, giàu có cùng tột, dân chúng đông đúc.” Đến năm 1927, với sự đồng ý của chính phủ Ấn Độ, cộng đồng Phật tử Myanmar đã phát tâm kiến tạo ngôi tháp Niết-bàn ngay trên nền móng cũ của bảo tháp do vua Asoka xây dựng ngày xưa. Gần 50 năm sau, vào năm 1972, các Phật tử Myanmar lại phát tâm trùng tu bảo tháp này một lần nữa, và đấy chính là bảo tháp Niết-bàn hùng vĩ mà chúng ta thấy ngày nay.
Khoảng chừng bốn tiếng sau, Thầy có mặt tại địa phận mà nơi ghi lại dấu ấn Đức Thế Tôn dừng chân trước khi về Ca Tỳ La Vệ thuyết pháp cho quê hương, giảng kinh cho hoàng gia. “Kinh thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) một kinh thành trù phú, xa hoa tráng lệ, nơi mà đông cung thái tử Sĩ Đạt Ta (Siddhāttha) sinh ra và lớn lên trong nhung gấm lụa là, trong tình yêu thương tuyệt đối của hoàng thân quốc thích, tràn ngập niềm hạnh phúc với vợ đẹp con xinh, sự kính trọng nể vì của toàn bộ tộc Thích Ca (Sakyā), sự hy vọng và ngưỡng mộ của toàn dân kinh thành Ca Tỳ La Vệ. Để rồi, từ những thái cực của cuộc đời, nghèo giàu, khổ đau và hạnh phúc, sự sống mong manh, cái chết vô thường.... đã dẫn đến cuộc ra đi vĩ đại, cuộc ra đi vô tiền khoáng hậu, cuộc ra đi làm nên trang sử vàng, chính là sự có mặt của một đạo Phật cứu khổ ban vui, vì lợi ích cho vạn loại hữu tình trên hành tinh này. Một kinh thành chứa đầy kỷ niệm, một kinh thành không thể tách rời Phật giáo, một kinh thành không chỉ là quê hương đức Phật mà còn là quê hương của người con Phật, quê hương của tất cả chúng ta”.
Nhân dịp này Ni sư Như Huy, sư Cô Liên Như và tài xế Pasyan (Pijuy) đi thăm thành Vesàli (Tỳ-sa-li) cách Kushinagar 280 km về hướng Bắc và 180 km về phía Nam. “Tại đây chúng Nhớ lại lời Phật dạy về sự tai hại của thành kiến, Ðức Phật dạy: "Kiến chấp - Thành kiến sai lầm - làm cho người ta không thể thấy được sự thật". cũng chính là nơi Di mẫu Mahàpajàpati liền đến gặp Đức Phật tại vườn Ni Câu Luật (Nigrodharama), ngoại thành Kapilavatthu và xin Phật cho phép phụ nữ được xuất gia. Bà nói: “Bạch Đức Thế Tôn, thật đại hạnh cho nữ giới nếu Đức Thế Tôn cho phép họ từ bỏ nếp sống gia đình, được sống trong giáo pháp và giới luật của Đức Như Lai”. Mặc dầu thiết tha thỉnh cầu đến ba lần như vậy, bà vẫn bị Đức Thế Tôn một mực từ chối. Nước mắt ràn rụa, bà đành buồn bã quay trở về.
Tuy nhiên, không nản chí trước sự từ chối của Đức Thế Tôn, sau khi Phật trở lại Vesali (Tỳ Xá Ly), bà Mahàpajàpati quyết định rũ bỏ tất cả những đồ trang sức, xuống tóc, đắp y, cùng với 500 người nữ dòng họ Sakya, chân trần đi bộ đến Vesali để cầu xin xuất gia. Đoạn đường từ Kapilavatthu đến Vesali dài 150 dặm (gần 250km). Khi đến nơi, đôi chân của họ sưng phồng và rướm máu, mình mẩy lấm đầy bụi đường. Bấy giờ Đức Thế Tôn đang ngự tại Mahavana, trong giảng đường Kutagara. Cả đoàn người đứng ngoài giảng đường, kiệt quệ, hốc hác,... hướng về phía Thế Tôn, khóc nức nở.
Tôn giả A Nan thấy bà Mahàpajàpati cùng 500 Thích nữ khóc lóc thảm thiết trước cổng tinh xá, bèn vội ra hỏi: “Vì sao bà cùng 500 người nữ Sakya đứng nơi đây than khóc?”. Mahàpajàpati đáp: “Chúng tôi là người nữ không được Đức Phật cho phép xuất gia thọ Đại giới trong giáo pháp của Ngài”. Nghe vậy, ngài A Nan bèn an ủi họ rồi đến xin Đức Phật cho phép người nữ được xuất gia. Nhưng Đức Phật vẫn một mực từ chối, Ngài nói: “Nếu người nữ xuất gia thọ Đại giới trong giáo pháp của Phật thì sẽ khiến cho Phật pháp trụ thế không lâu dài”. Tôn giả A Nan liền bạch Phật: “Mahàpajàpati đối với Phật vốn có ân sâu, Người đã nuôi dưỡng Thế Tôn khôn lớn...”. Phật xác nhận: “Đúng vậy! Mahàpajàpati đối với Ta có ân rất lớn. Mẹ Ta qua đời, Mahàpajàpati đã nuôi dưỡng Ta, khiến Ta khôn lớn. Ta đối với Mahàpajàpati có ân rất lớn...”. Tôn giả A Nan đã khéo thỉnh cầu Phật cho phép nữ giới gia nhập Tăng đoàn, trở thành những vị Tỳ kheo ni, khi ngài hỏi Phật rằng: Liệu những người nữ trong pháp Phật xuất gia có chứng được Thánh quả không? Đức Phật trả lời: Có thể chứng được! Như vậy, Đức Phật công nhận khả năng thành tựu Thánh quả của nữ giới. Ngài cho phép nữ giới xuất gia với điều kiện phải tuyệt đối giữ gìn Bát kỉnh pháp. “Nếu Đức Thế Tôn đã vì những người nữ nói Tám pháp không thể vượt qua này rồi, thì tôi và năm trăm người nữ Sakya sẽ cùng nhau cúi đầu thọ nhận”. Ngay sau đó, di mẫu Mahàpajàpati và 500 Thích nữ cùng theo bà được Đức Phật cho phép thọ Đại giới, trở thành những vị Tỳ kheo ni đầu tiên của giáo đoàn. Mahàpajàpati chính là người phụ nữ đầu tiên trong Giáo hội Phật giáo thể hiện khả năng tu tập vững vàng của nữ giới một cách thuyết phục”.
Thầy đã về lại Bồ Đề Đạo Tràng 21 giờ cùng ngày.
“Một điều kỳ diệu đối với bất cứ ai được một lần dừng chân nơi đây, hoặc lễ bái, hoặc tụng kinh hoặc kinh hành, hoặc khởi lòng đối với đức Phật chúng ta đều có chung một cảm giác an lành, một niềm hoan hỷ trào dâng, đó chính là sự gia trì của đức Phật cho hàng đệ tử của Ngài hay bất cứ những ai có một chút nghĩ tưởng đến ân đức của Phật”. Như vậy, có thể nói, nếu không do quyết tâm và lòng tin kiên cố vào Đức Phật cũng như vào chính bản thân mình , hẳn sẽ không thể vượt qua bao nhiêu gian khó cho một cuộc hành trình đầy tâm linh. Như sự kiện dựng tượng Bồ Tát Quán Thế Âm lần này , được xem là một bước nỗ lực thành tựu quý báu vô cùng .
11giờ, vào ngày 20/12/2010 phái đoàn chia tay với Sư cô Diệu Đáo, Sư cô Sofa cùng toàn thể Phật tử đã đến chào tạm biệt Thầy tại phi trường Buddhagaya trong niềm xúc động và cảm mến với ngày xưa đức Phật đã dùng số lượng cát của sông Hằng để ví dụ cho số nhiều không thể đếm được, như "Hằng hà sa số chư Phật, Hằng hà sa số thế giới"...
Ban thị giả cẩn bút
Thích Pháp Bảo & Nguyên Niệm
-- Có sử dụng tư liệu khác.
-- Vẻ Đẹp Phật Pháp tường thuật & Vi tính

21 năm nhìn lần Người xa cách
Mẹ bơ vơ xóm nhỏ đường lên đèn
Đời xót xa đắng luôn manh áo mỏng
Vần trăng luôn ẩn chứa sự cô đơn!.
Người ra đi như bình minh tắt hẳn
Bóng vô thường dần xóa phút gần nhau
Cả một nhà xơ xác gió điều hiu
Cứ như thế Ba ngậm ngùi đi mãi.
21 năm bây giờ trở lại
Những mầm xanh cũng đến lúc hồi sinh
Cuộc dâu bể ‘Giếng’ băn khoăn mòn cạn
Chút tình thương nhớ mãi cả đời con.
Thuyền về chơi giữa đôi dòng thuận nghịch
Ngày sóng lớn sẽ dịu lại thôi mà
Của đêm hai mươi mốt mùa mưa vắng
Tình cha về tiếp nối mạch tâm linh.
(Kinh Tâm thủ bút)
.jpg)
…Sáng mở cửa, uống trà, nhìn mây và ngắm nắng từ vô tận. Những nhành cây lặng lẽ trong tiếng thời gian quá khứ. Mặt hồ tĩnh mặc như một bức họa vô tâm, trên mặt nước còn sót lại chiếc lá và đám rong mây của mùa thu qua. Con đường lạ lẫm mà chưa một lần bước đến nay đã trở thành huyền thoại. Nơi vô thỉ ấy, ta chỉ biết có lời kinh hóa ngọc, lời pháp tỉnh lòng mê và vô số điều uyên thâm đắc đạo của những bậc thượng thủ.
“Ta đã trở về với chính ta,
Ta cùng chư Phật chung một nhà,
Ta đi phiêu bạt trong hoàn vũ,
Chẳng phải nơi nào chẳng phải ta”.
Thơ.Đồng Nhãn.
Cái thấy mà không bám víu, cái biết hòa điệu như một cung bậc thăng trầm, đi nhưng không phải là đi, ở cũng chẳng xá gì chỉ nhắm mắt thiếp ngủ hai ba lúc rồi thức dậy. Chúng ta phải nhìn thấu được sự hiện hữu của “ Một nhà” là đến lúc ta biết an trú vào đối tượng quán chiếu, thân hành nơi thân hành, tâm trong tâm, ý xúc tác mà không chạm, miệng giữ yên không động thì có thể chúng ta cứ tiếp tục nhiếp phục tóm thâu mọi nắm bắt kia. Dường như mùa đông cũng thế, chúng cũng chịu buông bỏ cái lớp vỏ bên ngoài để vững an từ cái nội tại. Có đôi khi chúng còn thừa hưởng sự tụ khí và đón nhận cái chân lý ‘ Là Không’ bao trùm cõi nhân địa, sống trong tỉnh giác trở về với tâm:
« Ta lại tìm ta chốn bụi hồng,
Cho hồn ta nhập với núi sông,
ở đây nương tựa vầng mây khói,
vạn nẻo luân hồi vạn nẻo không. »
.jpg)
Như một chiếc bình cổ, qua sự biến đổi của hiện thể, chúng ta dễ dàng thấy vết nứt trên thân bình, trên vành miệng bình, chúng ta mãi mê lau chùi chiếc bình cho bóng loáng mà quên đi một tác động nhỏ đến từ bên ngoài, làm hoại dần sự trong sáng vốn có của nó. Từng tơ bụi có thể đọng lại mà ta không hề hay biết, nhưng chúng cũng có khả năng bảo tồn dính chặt vào khe hở của chiếc bình muôn tuổi. Do ta không biết đó thôi, Mùa Đông lắm lúc cũng là sự chuyển dần của một bước ngoặc mới trong ý thức, trong căn cơ và trong mỗi hơi thở bất diệt vô sanh. Ngày hôm qua chưa chắc là của ngày hôm qua, sáng nay cũng vậy, chúng tiềm tàng ở mọi thế giới khác nhau, xóa tan đi những đám mây hư vô và bước chân ta luôn có mặt với thực tại để sống và để một lần nữa hòa mình vào dòng chảy vô dư y niết bàn. Như một hành giả, gánh tọa cụ và nước lên núi để tìm hang động ẩn thất, đang trên đường đi tới thì bỗng cành cây khô vướng lại, choáng cả lối mòn lên núi, bằng mọi cách vị Thiền Sư ấy, quăng các thứ còn lại xuống và cởi chiếc áo ra móc vào thân cây gần đó, để làm dấu. Từ từ Vị ấy nhận ra rằng cái mà hồi nảy giờ ta lặn lội đi tìm kiếm là một cành cây khô đã mục nát lâu ngày chỉ còn sót lại nhăm ba nhánh bên đường, làm cản trở chuyến lên ẩn thất của tôi. Một trạng thái chân tục đế, hữu dư y niết bàn mà sở dĩ ta vội vàng được một nhà học giả gọi là “ Trạng thái tâm vắng lặng mà thường biết là đương thể của Niết bàn. Thế nên, Niết bàn chính là bản tâm thanh tịnh xưa nay. Nhờ cái đương thể của Niết bàn mà thế gian sinh diệt mới có chỗ dựa tối hậu. Niết bàn hay sinh tử rốt cùng cũng chỉ là cái tâm của chúng ta, vì sinh tử (mê) và Niết bàn (giác) chỉ là biểu tượng hai mặt của tâm. Có khi người ta hiểu Niết bàn là một cảnh giới, nhưng là một cảnh giới vi diệu mà ở đấy tất cả dục vọng vô minh của cá thể không còn tồn tại nữa. Vì thế, những người đệ tử Phật muốn biết Niết bàn là gì, chỉ có thể kinh nghiệm một cách trực tiếp vào nguồn tâm của chính mình. Và khi nào mà ý niệm về ta và của ta không còn năng lực hoạt động trong tâm, thì tự nhiên hành giả sẽ kinh nghiệm được cái một, cái thuần nhất bất tạp của muôn loài vạn vật. Có thể nói, Niết bàn là chân lý tuyệt đối, nó vượt ngoài nhị nguyên và tương đối. Người đạt được Niết bàn là người phục vụ kẻ khác một cách trong sạch nhất, vì họ không còn nghĩ về mình, họ đã thoát khỏi mọi sai lầm về Ngã và lòng khát khao muốn trở thành. Trong Niết bàn, không còn có thái độ thiên chấp và bưng bít. Niềm vui chân thật chỉ xuất hiện khi nào ta thoát khỏi mọi thành kiến ngã chấp và ý niệm có sẵn. Những người có lối sống phàm thường, đam mê trong dục lạc thật khó mà biết được sự an lạc nội tâm của các nhà tu hành đắc lực. Nhất là thời hiện đại này, nhiều người đã xem nhẹ truyền thống tâm linh và đạo đức, lại xem trọng tri thức và vật chất. Và chính đó là mầm mống thác loạn trong đời sống nội tâm và đời sống xã hội loài người hôm nay” và rồi sẽ “Cái gì có nương tựa, cái ấy có dao động; cái gì không nương tựa, cái ấy không dao động. Không có dao động thời có khinh an, có khinh an thời không có thiên về, không có thiên về thời không có đến và đi, không có đến và đi thời không có diệt và sanh, không có diệt và sanh thời không có đời này, không có đời sau, không có đời giữa. Đây là sự đoạn tận khổ đau”.
Người Thiền sư suốt đêm qua luôn gác tay suy tư về điều mà Ông chứng kiến buổi hôm qua, Ông cho rằng cái mà vừa sắp diễn ra là cái chưa một lần đến và cái sắp bắt đầu là cái không biết chắc xãy ra. Bởi vậy mùa đông giúp cho chúng ta biết thêm về sự tương quan tương duyên của cuộc sống, tưởng chừng ta đơn độc như vị Sư Thiền kia, một mình lên núi, một mình cởi áo và cũng một mình đoạn trừ các lậu hoặc trước khi chiếm tới đỉnh núi ẩn thất. chúng ta sẽ tìm ra sự phòng hộ giữa các chuyển mùa với nhau, đừng ích kỷ tách biệt cái này của ta và cái này không là của ta. Bị bám víu vào các cảm thọ xôm tụ, vui sướng, nóng lạnh thì ta đang mắc kẹt ở các pháp.
Có một thiền khách hỏi:
Sau khi mùa đông đi qua, để lại gì cho ta?
Sư đáp:
- Hãy nơi sinh tử mà nhận lấy.

“Tất cả pháp hữu vi sinh diệt trong từng sát na. Quá khứ đã trôi qua, vị lai thì chưa đến, sự tồn tại chân chính chỉ có thể tìm thấy trong từng sát na hiện tại. Vì thế, Niết bàn chỉ có ở sát na hiện tại, ngay tại đây và bây giờ. Niết bàn cũng là chỗ tiềm ẩn của thế giới hiện thực, song song tồn tại với thế gian vô thường, và vô thường chính là dụng lực của Niết bàn vô vi đó vậy”.*
Thế cho nên thế giới Hoa Nghiêm luôn hiển hiện ở cùng khắp và đâu có cũng có chân lý tuyệt đối. Một Chân lý huyền diệu mà ta có thể cảm được, chạm được thì hẳn nhiên hạnh phúc mà ta bắt gặp được trong từng giây từng phút là chuyện đương nhiên, chẳng có khó khăn gì lắm đâu, nếu tự thân chúng ta phải biết trải nghiệm và buông bỏ bớt mọi cái thấy, cái nghe rác bẩn. Như có một người chèo thuyền ra biển khơi, lúc gặp gió lớn, sóng dữ, người ấy chẳng cần dụng công lực chi nhiều mà hãy thả trôi vô sự, chờ đến khi sóng yên, gió lặng ta tiếp tục lái con thuyền đi mọi hướng vọng tâm của chúng ta.
“Tùng non lớp lớp giữa nền trời
Đùa reo với gió chừng thảnh thơi
Từng bước ta đi trên lối cỏ
Muôn ngàn giọt nắng dõi theo chơi”.
Mỗi khi sự sống vắng vẻ thì lúc tâm thức biểu hiện qua vô vàn sự biến chuyển. Nó như muốn ngừng thở và nó như muốn tái sinh và nó như muốn trở về…và mùa đông cũng vậy, nó luôn là một thứ gì đó rất ư tự nhiên, nó luôn muốn lột xác, để lại chút gì cho thế gian. “ Tất là cả một” Một cõi đi về mà thôi.
Kinh Tâm – Thích Pháp Bảo
Thiền Viện ngày 24/09 năm Canh Dần-2010


